Ken Holmes | Trí Minh lược dịch: A La Hán và Bồ Tát | The Ways of the Arhat and the Bodhisattva

Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đề nghị nói chuyện với các bạn về hai truyền thống chính của Phật giáo: truyền thống được gọi là Tiểu thừa (hinayana) và Đại thừa (mahayana): con đường nhỏ và con đường lớn hơn, con đường Shravaka[1] để trở thành một vị La Hán và con đường của Bồ tát (Bodhisattva) trở thành Phật.

Ôi chao! Có quá nhiều thuật ngữ – nào là shravaka, la hán, bồ tát… – mới nghe qua đã cảm thấy… rối bời!

Song, chúng ta hãy cố gắng giải thích các thuật ngữ này một cách đơn giản nhất có thể, trước khi đi vào chi tiết. Hầu hết các tôn giáo đều nói về mối quan hệ giữa cá nhân bạn và Thượng đế hoặc, một số tôn giáo khác, là mối quan hệ giữa bạn và nhiều vị Thần linh. Thượng đế hay những vị thần linh này được cho là có quyền năng điều hành vũ trụ: đấng sáng tạo ra vũ trụ. Riêng Phật giáo thì khác.

Tổng quan, Phật giáo là hoạt động với tiềm năng tồn tại trong tâm trí con người. Không phải về mối quan hệ với một thực thể khác, một đấng tối cao, mà là về sự hiểu biết và thay đổi bản thân. Đó là sự thức tỉnh về những khả năng của cuộc sống và đặc biệt là việc ứng dụng điều phi thường này – bằng chính tâm trí của chúng ta – để trở thành một người khôn ngoan hơn, tử tế hơn, hài hòa hơn. Phật giáo tin rằng có một sự thuần khiết hoàn hảo vượt thời gian, một tình yêu sâu sắc dành cho tất cả chúng sinh, một nền hòa bình hoàn hảo và trí tuệ tuyệt vời sâu thẳm trong mỗi người. Nhiệm vụ của cuộc sống này là khám phá ra điều đó.

Đức Phật đã chỉ bày dạy rất sâu rộng về bản chất của cuộc sống và tiềm năng của con người. Ngài đã dạy cho hàng nghìn người trong suốt 45 năm, và hướng dẫn cho từng người tùy theo nhu cầu và năng lực. Trong hơn 2,500 năm, kể từ khi Ngài thuyết giảng, tất cả những lời dạy đó đã nảy sinh hai trường phái chính, được gọi là Đại thừa và Tiểu thừa.

Những người theo Tiểu thừa, “Con đường nhỏ” – muốn tìm thấy sự bình yên nội tâm tuyệt đối và muốn sống một cách tử tế, chân thật và độ lượng. Họ đôi khi được gọi là Shravakas: Shravakas có nghĩa là những người chú trọng đến truyền thống giáo lý. Họ có một nhận thức nhất định “đã ở đó, đã làm điều đó” đối với hầu hết các lạc thú trên thế giới này và không còn quan tâm đến chúng một chút nào. Bạn biết đấy, cảm nhận của bạn về bất cứ thứ gì từng gây nên một cơn sốt cách đây ba năm, bây giờ nó có thể không còn cuốn hút bạn nữa. Những Shravakas này xem thế giới như bị vây ám bởi việc thỏa mãn các giác quan để tìm kiếm hạnh phúc – ngắm nhìn những điều đẹp đẽ, nghe âm thanh dễ chịu, ngửi mùi dễ chịu, nếm thức ăn ngon và tìm kiếm những cảm giác dễ chịu về thể chất. Họ coi hạnh phúc như vậy là quá nông cạn, quá mong manh, nên thay vào đó họ tìm thấy sức mạnh nội tâm trong thiền định. Kết thúc cuộc hành trình này của họ, ước mơ của họ, mục tiêu của họ – là sự bình an nội tâm một cách tuyệt đối – được xem như là trạng thái đạt thành quả vị La Hán. Đôi khi bạn có thể đạt được trạng thái đó trong một đời thiền định cường độ cao, đôi khi phải mất nhiều kiếp.

Những người theo Đại thừa – được gọi là Bồ tát: Bồ đề tâm có nghĩa là với tâm thành Phật. Họ là những người cũng ý thức rất rõ về hạnh phúc mong manh của cuộc đời và những đau khổ tồn tại của hầu hết mọi người. Họ cảm động trước sự đau khổ này đến nỗi từ trong sâu thẳm trái của tim mình, họ hứa sẽ hiến dâng cuộc đời này và tất cả những kiếp sau để chăm sóc cho những chúng sinh khác. Họ cảm thấy rằng cách tốt nhất để thực hiện điều đó là trở nên giống như Đức Phật. Quả vị Phật là một trạng thái vượt xa quả vị A La Hán. Phải mất hàng trăm kiếp sống – hàng trăm lần tái sinh – để đạt được. Phương cách Bồ tát dựa trên sự chân thật, hòa ái và không bạo lực, nhưng đặc điểm chính của nó không phải là sự rút lui khỏi thế gian để an tịnh nội tâm mà là sự dấn thân tích cực vào thế gian, sự phát triển của lòng nhân ái, từ bi và quan tâm đến người khác vô cùng sâu sắc. Tóm lại, từ đầu đến cuối, con đường của Bồ tát là con đường từ bi, chăm lo cho tất cả vạn vật, chúng sanh.

Như bạn đã biết “tôi đến từ đâu”, thuộc về truyền thống Đại thừa, và vì vậy tôi sẽ nói về chủ đề hôm nay theo truyền thống đã được trình bày trong Đại thừa.

Hãy xem kỹ các thuật ngữ này – chúng sẽ xuất hiện một vài lần trong bài nói chuyện. Xin lưu ý rằng các vị Bồ tát là những người đi theo con đường tâm linh, mà điểm đích của những con đường đó là quả vị của A La Hán và Phật. Sau khi đã giới thiệu rất ngắn gọn về hai phái chính của Phật giáo này rồi, tôi muốn đi sâu hơn bằng cách nói về một chủ đề theo truyền thống được gọi là ba “nhân cách lý tưởng” (valuable human), được giảng dạy rộng rãi ở Ấn Độ vào thế kỷ 11. Họ được gọi là “những nhân cách lý tưởng” bởi vì – theo quan điểm của Phật giáo, về mặt đánh giá giá trị của Phật giáo – họ thực sự đang làm một điều gì đó trong cuộc sống của mình: tạo ra một sự thay đổi rõ rệt và dứt khoát cho chính họ, và có lẽ là cho cả những người khác, để tất cả tốt hơn. Nếu bạn thích, họ có thể được coi là đối tượng của Phật giáo hoặc ba trạng thái tâm lý mà giáo lý Phật giáo đề cập đến. Chủ đề này giúp chúng ta hiểu được vị trí của các vị A La Hán và Bồ tát – sẽ được nói đến là nhân cách lý tưởng thứ hai và thứ ba – và giúp chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm của những từ “hinayana” và “mahayana”.

Nhân cách lý tưởng thứ nhất: Người sống khôn ngoan trên đời.

Phần lớn những Phật tử thuận thành (trái ngược với những người không năng hành Phật giáo), thì thuộc về nhân cách lý tưởng đầu tiên này. Họ vẫn chưa đi theo con đường của La Hán hay Bồ tát. Còn quá sớm! Giống như những đứa trẻ đang tập đi. Shravakas và Bồ tát giống như người lớn lái ô tô hoặc lái máy bay, nên họ không giống như Shravaka và Bồ tát, họ vẫn chưa sẵn sàng buông bỏ sự ràng buộc của mình vào những dục lạc thế gian để tìm kiếm sự bình an về tâm linh. Tuy nhiên, những lời dạy của Đức Phật vẫn có thể giúp họ rất nhiều. Vì vậy, chủ yếu cuộc nói chuyện hôm nay tập trung nói về ba việc: Phật tử tại thế gian, A La Hán và Bồ tát.

Đức Phật giúp đỡ hạng người đầu tiên có nhân cách lý tưởng là Phật tử tại thế gian như thế nào? Bằng cách giúp họ sống cuộc sống của họ theo các nguyên tắc dựa trên quy luật của nghiệp (karma). Karma có nghĩa là hành động và các quy luật của nghiệp giải thích tại sao mọi thứ xảy ra và hành động của chúng ta quyết định số phận của mình như thế nào. Mọi người đều thắc mắc tại sao sự việc lại xảy ra. Bạn biết đấy, chắc hẳn bạn đã tự hỏi bản thân rằng tại sao bạn lại là bạn, khác với người ngồi bên cạnh. Tại sao có vẻ đẹp tinh tế của cuộc sống? Tại sao có những nỗi kinh hoàng tàn khốc trong cuộc sống? Hầu hết các tôn giáo đều mô tả những điều này do mục đích của một đấng thần linh nào đó, riêng Phật giáo quan niệm rằng mọi sự kiện là hậu quả lâu dài từ hành động của chính chúng ta: hành động với tư cách cá nhân (biệt nghiệp) và hành động với tư cách tập thể (cộng nghiệp). Đạo Phật cho rằng hành động của chúng ta khiến chúng ta trở thành con người như thế nào và làm cho thế giới của chúng ta trở nên như thế nào.

Đức Phật dạy rằng gần như tất cả những điều chúng ta làm, nói và nghĩ đều có hậu quả lâu dài cho chính mình. Những gì chúng ta đang làm bây giờ là định hình tương lai của chính chúng ta, trong cuộc sống này và những đời sau. Những gì trong hiện tại đã được định hình bởi cách chúng ta hành động và phản ứng trong quá khứ. Hãy nhớ và tin rằng cuộc sống hiện tại chỉ là một trong một chuỗi dài đời sống, vì chúng ta luân hồi nhiều lần. Những gì chúng ta gây ra trong cuộc sống này tạo ra tất cả các hệ luỵ tế nhuyễn của cuộc sống tương lai: chúng ta gặp ai, hoàn cảnh biến động, sức khỏe thất thường, đau khổ hay hạnh phúc …v.v. Vì vậy, khi chúng ta sống hòa thuận, hữu ích và khôn khéo với nhau tự bây giờ, điều đó tạo ra hạnh phúc về sau. Ngược lại, chúng ta sống trong xung đột, tự cho mình là trung tâm và không thận trọng, nó sẽ tích trữ đau khổ cho sau này. Nếu chúng ta bảo vệ và cứu lấy sự sống – ngay chính trong cuộc đời này – thì bản thân chúng ta sẽ được sinh ra với cuộc sống trường thọ và sức khỏe tốt trong thời gian tới. Nếu bây giờ chúng ta độ lượng và quan tâm, chúng ta sẽ cảm thấy hài lòng với rất nhiều thứ của mình trong cuộc sống tương lai và được người khác quan tâm. Nếu chúng ta điều hướng theo những gì Phật giáo khuyên dạy về một cuộc sống tự trọng, có trách nhiệm trong các mối quan hệ tình dục với một người, chúng ta sẽ tìm thấy những người bạn đời yêu thương, quan tâm và phù hợp trong kiếp sau…v.v.

Đức Phật đã đưa ra nhiều lời khuyên về hành động của chúng ta – và đặc biệt là một danh sách rất hữu ích về 10 hành động cần phải tránh và 10 hành động nên trau luyện. Những điều này tạo nên nền tảng cho đạo đức Phật giáo giống như 10 điều răn được thực hiện trong truyền thống Do Thái hay Cơ đốc giáo.

Tất nhiên, trong mọi hành động của hàng Phật tử tại thế gian – là nhân cách lý tưởng đầu tiên – vẫn có một mức độ tư lợi tương đối. Đây không phải là những Phật tử tuyệt đối muốn rời bỏ mọi nhu cầu thế tục và tìm kiếm sự bình yên lâu dài của niết bàn. Trong cuộc sống, họ vẫn muốn trở thành một ai đó, ở một nơi nào đó trên thế giới…v.v, nhưng tốt nhất vẫn là trở thành một người khỏe mạnh, hạnh phúc và thịnh vượng hơn trong một gia đình và môi trường xã hội tốt hơn bây giờ. Ngay cả khi điều này không có khả năng xảy ra trong đời này, họ vẫn cố gắng sống theo lời Phật dạy về nghiệp để mong đón nhận những điều tốt hơn ở kiếp sau.

Trong việc giảng dạy các quy luật nghiệp báo – nguyên nhân và kết quả của các hành động của chúng ta – Đức Phật không chỉ cố gắng giúp mọi người tự giúp mình mà còn cố gắng tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn: một xã hội ít bạo lực hơn, ít bất lương hơn và tôn trọng người khác.

Hơn nữa, chính hai nhân cách lý tưởng khác mà ta sẽ nói đến – La Hán và Bồ tát – cũng xuất thân từ nhóm người tốt này. Vì rằng một ngày nào đó của đời người, sẽ hình thành trong tâm trí họ một nhận thức sâu sắc về mức độ đau khổ đang xảy ra trên thế; vì vậy rất có thể họ trở thành những hành giả tương lai của A La Hán hay Bồ tát.

Nhân cách lý tưởng thứ hai: Shravaka, người xa lánh trần tục để đạt được niết bàn; niết bàn của La Hán.

Bây giờ chúng ta đến nhân cách thứ hai. Đây là những người không còn muốn “trở thành” một ông bà nào đó, ở một nơi nào đó. Họ hiểu rằng có một trạng thái tinh thần thoải mái và bình an sâu sắc, thỏa đáng hơn nhiều so với bất cứ điều gì mà thế giới này có thể đem lại. Bạn biết đấy, bạn như thể đã ở trong một căn phòng đầy khói bụi, ồn ào, đông đúc và đột nhiên bạn khám phá ra không gian rộng mở, trong lành của thiên nhiên. Căn phòng chật chội, khói bụi là tâm trí thế gian bận rộn. Sự thanh khiết và tươi mát được khám phá trong không gian bên trong của thiền định. Đó là một không gian thanh bình, vô hạn vượt lên trên bản ngã và sự sùng bái bản ngã – bạn hiểu ý tôi muốn nói là sự tôn sùng nhân cách, nơi mà TÔI, tôi đều quan trọng – một thế giới mà bạn phải khẳng định mình, tạo ra lãnh thổ, trở nên xinh đẹp, trở nên thông minh, LÀ… ai đó.

Với nhân cách lý tưởng thứ hai, đã từng có đủ khả năng để tìm kiếm những thú vui của giác quan và để có được một hạnh phúc luôn phụ thuộc vào những thứ bên ngoài: vào người khác, vào thời tiết, vào thức ăn, vào điểm tham quan, vào âm thanh, vào thành công trong công việc, về tình cảm con người…v.v. Họ đã bị sốc bởi sự mong manh vô thường (anicca) của hạnh phúc như vậy và bằng cái giá của sự đau khổ (dukha) đi cùng với nó. Họ biết rằng Đức Phật và các vị La Hán trong quá khứ đã xoay sở để không tái sinh vào những cuộc đời có hạnh phúc và đau khổ lẫn lộn. Họ đã làm điều đó như thế nào? Bằng cách chấm dứt những hành động có hại – tạo nghiệp để lăn trôi trong luân hồi. Làm thế nào để ngăn chặn những hành động có hại này? Bằng cách loại bỏ nguyên nhân của chúng: giận dữ, ghen tị, kiêu mạn, ngu dốt và ham muốn. Làm thế nào để thoát khỏi tất cả những điều đó? bằng cách phá hủy nguyên nhân của chúng: ảo tưởng về cái tôi, về cái TÔI của tôi.

Những vị này tẩy sạch tâm trí của họ khỏi tất cả những cảm xúc, cảm giác và ảo tưởng vô ích này và thay vào đó nuôi dưỡng những trạng thái rất tự nhiên của sự bình an nội tâm. Ưu điểm của hạnh phúc nội tâm này là nó không phụ thuộc vào người khác và những thứ bên ngoài. Đó là trạng thái hạnh phúc liên tục không phụ thuộc vào thế giới nhân cách và cảm xúc lên xuống thất thường. Nó tròn đầy. Nó không có đau khổ. Khi nó được hoàn thiện, nó sẽ tồn tại mãi mãi. Nó được gọi là niết bàn. Đây là điều mà Shravaka hy vọng sẽ đạt được.

Lúc này, tôi nghĩ sẽ nên làm rõ ý nghĩa của từ “niết bàn” vừa nêu. Niết bàn không phải là một cái gì đó cụ thể: không phải là một cái gì đó hiện hữu. Nirvana có nghĩa là “chấm dứt đau khổ hoàn toàn”. Nói cách khác, nó được định nghĩa bởi những gì nó không phải là: nó không phải là đau khổ. Nó có nghĩa là bạn mãi mãi đã thoát khỏi đau khổ. Nó giống như “đã ra khỏi chảo lửa”. Một người không còn bị vùi dập bởi những đau khổ của cuộc sống. Nhưng điều này không cho chúng ta biết mình thực sự đang ở đâu: trong bể bơi, trên núi, trong khoang vũ trụ. Nó chỉ cho chúng ta biết rằng chúng ta đang ở ngoài ngọn lửa. Vì vậy, từ niết bàn này có thể bao hàm nhiều sắc thái. Điều này sẽ trở nên quan trọng khi chúng ta nhìn vào cách thức của Bồ tát. Chúng ta sẽ thấy rằng vị Bồ tát đang cố gắng đạt được niết bàn cao hơn nhiều so với vị A La Hán. Cả hai đều là niết bàn vì cả hai đều đã vượt ra khỏi sự đau khổ của thế gian, bởi vì cả hai đã không còn tạo nghiệp gây ra đau khổ. Nhưng vị Bồ tát hướng tới mục tiêu trở thành Phật và một vị Phật có nhiều phẩm chất hơn một vị La Hán và đã loại bỏ nhiều vướng mắc hơn khỏi tâm trí.

Ứng xử, Thiền định và Trí tuệ. Tôi nghĩ rằng bạn có thể biết những điều này. Cơ sở cho con đường dẫn đến niết bàn của La Hán là một hành vi đạo đức và đạo đức rất thuần khiết trong ý nghĩa tất cả những gì người ta nói, tất cả những gì người ta làm về thể chất cũng như nghề nghiệp của mình. Ở một khía cạnh nào đó, nó tương tự như sự chú ý cẩn thận đến nghiệp của nhân cách lý tưởng đầu tiên đã đề cập. Nhưng động cơ thì khác. Ở đây, hành vi thuần túy nhằm mục đích tắt đoạn phim về cuộc sống, không phải để biến nó thành một bộ phim hay hơn. Động lực khác nhau này tạo ra những kênh khác nhau. Nó giống như kiếm được cùng một số tiền nhưng đầu tư nó vào một tài khoản khác. Thiện nghiệp của A La Hán không phải trả thế chấp – mà là đi vào quỹ hưu trí vĩnh viễn.

Trên nền tảng của hạnh thanh tịnh này, niết bàn đạt được nhờ sự kết hợp khéo léo của hai điều: thiền định và trí tuệ. Đầu tiên chúng ta hãy xem xét về thiền định.

Để đưa ra một ví dụ: nếu chúng ta coi thế gian là hành tinh Trái đất, thì vị La Hán đã vượt ra ngoài trường hấp lực của Trái đất và đang bay lơ lửng trong không gian thiền định. Đức Phật cũng đã vượt ra khỏi hấp lực của Trái đất nhưng đã đến được trung tâm của Mặt trời của Trí tuệ.

Thiền định là cách mà những người trở thành A la hán vượt qua những đam mê, giận dữ và những kích động khác của tâm trí. Tập trung thiền định nuôi dưỡng sự bình an nội tâm. Khi an định phát triển, những ham muốn, sự căng thẳng, và tất cả những thứ khác tự nhiên giảm đi. Khi an định phát triển, tính thế tục giảm đi. Nó giống như nước. Hãy cùng nhau suy nghĩ trong một phút. Mọi người đã nhìn thấy một đại dương đầy sóng gió chưa? Hãy thử tưởng tượng xem: những con sóng xám xanh bao la, mạnh mẽ, cuộn trào. Bạn không thể nhìn thấy nó, nó cuồn cuộn, nguy hiểm và nó phản ánh không có gì rõ nét. Đó là tâm thế gian: rất kích động, rất bận rộn với chính nó, rất thiển cận và rất vô minh. Bây giờ chúng ta hãy nghĩ về nước trong – một hồ nước rất yên tĩnh. Khi nước trở nên bình lặng, sóng giảm dần. Khi nước lặng, bạn có thể nhìn thấy tất cả cá và thực vật ở độ sâu của nó và nó phản chiếu bầu trời vào ban ngày và các vì sao vào ban đêm. Tâm thiền rất tĩnh lặng, trong sáng và đẹp đẽ, giống như một đại dương rất tĩnh lặng. Nó có trí tuệ nhìn sâu xa.

Khi sự tức giận, ham muốn…v.v. giảm bớt nhờ thiền định, sự bình an trở nên lâu dài hơn và ổn định hơn. Điều này cho thấy mức độ suy nghĩ và hoạt động tiềm thức mà trước đây người ta có thể đã không nhận thức được. Cứ lặp đi lặp lại, người ta phát triển tiến trình an lạc nội tâm, cho đến khi tâm trí vô cùng trong sạch và tinh khiết, không biết gì ngoài hạnh phúc và bình an. Một đại dương yên bình, tuyệt vời. Thiền đòi hỏi sự rèn luyện cẩn thận về chánh niệm, sự tập trung và nỗ lực chuyển hướng tích cực của chúng ta.

Bây giờ chúng ta hãy xem xét sự khôn ngoan. Khi thiền định được cải thiện, sự tĩnh lặng và sáng suốt của tâm trí cho phép sự hiểu biết về nhận thức trở nên chính xác hơn. Cũng giống như khoa học hiện đại của chúng ta xuyên qua những bí mật của vũ trụ thông qua việc nghiên cứu rất rõ ràng về nguyên tử và bộ gen của con người, khoa học về thiền tập trung nghiên cứu các hoạt động phức tạp của tâm trí con người và kiến thức này rất hữu ích trong việc chuyển đổi tâm trí và mang lại sự ổn định cũng như trí tuệ. Khi tôi nói “cái nhìn sâu sắc thực sự”, tôi muốn nói đến Bốn sự thật (Four Noble Truths) không còn là những ý tưởng nữa mà là những gì rất sống động, trực tiếp được trải nghiệm thực sự sâu sắc, trực tiếp trong cuộc sống mà không cần suy nghĩ. Điều này mang lại cho bạn “cái nhìn đúng đắn” về mọi thứ – quan điểm đúng đắn – và cung cấp ý định đúng đắn để hướng dẫn người khác.

Tôi không muốn nói một cách quá kỹ thuật trong bài nói chuyện này. Những lời dạy của chính Đức Phật – được gọi là thánh kinh – về chủ đề con đường của các vị A La Hán đã lấp đầy hàng chục cuốn sách. Ví dụ, chúng ta có thể xem xét ý nghĩa thực sự của Bát Chánh Đạo mà tôi vừa mô tả.

Chúng tôi cũng có thể khám phá (nếu có thời gian) thiền định thực sự thay đổi tâm trí như thế nào, mang lại tự do và bình an cũng như sự xuất hiện của những phẩm chất thánh thiện, những điều khá phi thường; kỳ diệu.

Ngoài ra, nếu có thời gian, chúng ta sẽ khám phá bản chất của trí tuệ trong con đường này, xem nó là vô ngã như thế nào – một sự tẩy trừ hoàn toàn của tất cả những ảo tưởng về bản thân mà tâm trí con người có thể tạo ra, cho dù đó là bản ngã cá nhân hay bản ngã vũ trụ, dưới dạng một đấng thần linh hoặc một loạt các vị thần linh. Trí tuệ này cũng nhận ra anicca – bản chất hoàn toàn thoáng qua, hoặc vô thường, của các hiện tượng khác nhau của thế giới tâm trí và vật chất để hiểu chi tiết cách chúng kết hợp với nhau và kích hoạt lẫn nhau, rồi biến những sự kiện chúng ta coi là cuộc sống với tất cả sự khổ đau (dukkha).

Hành trình thanh lọc tinh thần của Tiểu thừa là một chuyến đi sâu vào sự bình yên nội tâm. Có bốn giai đoạn chính của cuộc hành trình này, A La Hán là giai đoạn cuối cùng.

  1. Khi một người có niềm tin sâu sắc vào những gì mình đang làm vì kết quả đang xuất hiện và quá trình này rất rõ ràng. Nếu chúng ta so sánh con đường thiền định với việc thông tắc cống, thì chính ở giai đoạn này – sau khi chọc que nhiều lần – sự tắc nghẽn sẽ thông thoáng và nước bắt đầu chảy nhanh.
  2. Khi một người thanh lọc tâm trí và nghiệp chướng của mình đã quá nhiều thì chỉ tái sinh thêm một lần nữa.
  3. Người không trở lại, khi đang sống kiếp cuối cùng như một vị La Hán
  4. A la hán thành tựu cuối cùng khi mọi dấu vết, thô thiển hay vi tế, của si mê bản ngã và những ham muốn, giận dữ, ghen tị, kiêu ngạo và mê muội đều bị loại bỏ khỏi tâm trí một cách không thể đảo ngược và tâm trí sẽ an nghỉ liên tục trong thiền định sâu xa.

Tới đây, tôi xin kết luận như sau. Chúng ta vừa xem xét hai mẫu nhân cách lý tưởng. Cùng với nhau, chúng tạo nên cái được gọi là hinayana hoặc gọi là Tiểu thừa. Tôi phải nói rõ rằng thuật ngữ hinayana không ám chỉ đến Phật giáo của bất kỳ quốc gia cụ thể nào. Nó đề cập đến Phật giáo phù hợp với tâm lý nhất định: một người đang làm việc trước hết vì hạnh phúc của chính mình. Người đó có thể ở Tây Tạng, Sri Lanka hoặc Scotland, theo bất kỳ trường phái Phật giáo nào. Những người như vậy không phải là không có tình yêu thương hay lòng trắc ẩn đối với người khác. Chỉ là họ cảm thấy – khá thực dụng – rằng cuối cùng, chúng ta không thể thay đổi người khác nhiều, nhưng chúng ta có thể thay đổi bản thân và sự tự chuyển hóa đó là nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta với tư cách là con người. Rất nhiều vấn đề của thế gian này đến từ việc mọi người cố gắng thay đổi lẫn nhau nhưng không sẵn lòng hoặc không thể thay đổi bản thân.

Hina có nghĩa là nhỏ hơn hay ít hơn và Yana có nghĩa là sức mạnh để mang theo. Bởi vì hai “nhân cách lý tưởng” đầu tiên này, tốt nhất chỉ có thể đưa một người đến sự giải thoát – người đó là chính mình – thì con đường của họ được gọi là con đường nhẹ hơn. Nó giống như một chiếc ô tô chỉ có một chỗ ngồi. Chúng ta sẽ thấy rằng con đường lớn hơn nhằm mục đích đưa nhiều người đến sự giải thoát. Nó giống như một chiếc máy bay phản lực jumbo.

Nhân cách lý tưởng thứ ba: Bồ tát, người làm việc giữa thế gian, theo trình tự đạt được Niết bàn “vô trụ xứ” của Đức Phật.

Vị bồ tát chia sẻ tuyệt đối tất cả những điểm tích cực của người theo hinayana: người đó nhận ra sự vô ích và đau khổ của thế gian (luân hồi) và cũng biết rằng có một trạng thái cao hơn nhiều cần đạt được. Một vị Phật không chỉ là người hướng dẫn và là người bạn tuyệt vời cho chúng sinh: sự thành tựu của Đức Phật – Niết bàn – còn thuần khiết hơn rất nhiều so với sự thành tựu của vị A La Hán. Chính khi hiểu được sự khác biệt giữa hai “nirvana”, người ta có thể hiểu rõ ràng những con đường khác nhau của Bồ tát và La Hán.

Trong bài pháp thoại này, tôi đã đánh vần về “Niết bàn” của Đức Phật với chữ “N” viết hoa và “niết bàn” của La Hán bằng chữ “n” nhỏ. Niết bàn của Đức Phật được gọi là Niết bàn không định vị, bởi vì chúng ta không thể định vị nó:

  1. hoặc trong cõi luân hồi –
  2. hoặc trong sự an lạc nội tâm sâu xa niết bàn của vị A La Hán.

Niết bàn của Đức Phật – với chữ “N” – do đó được cho là không phải luân hồi cũng không phải là niết bàn (như với chữ “n” nhỏ). Ở đây, tôi muốn nhắc bạn về điểm quan trọng đã nói trước đó: niết bàn đơn giản và chỉ có nghĩa là tất cả đau khổ đã chấm dứt nhưng không phải tất cả niết bàn đều giống nhau.

Giống như tất cả các nirvana, Niết bàn của Đức Phật đã vượt qua sự đau khổ của thế gian và sự cần thiết của việc tái sinh như một người nào đó, ở một nơi nào đó. Nhưng nó còn nhiều hơn rất nhiều so với sự an lạc sâu sắc của cõi niết bàn của các vị A La Hán. Niết bàn của Đức Phật là sự khám phá tổng thể về bản chất trung tâm, hoàn hảo, vượt thời gian của vũ trụ. Nó ở khắp mọi nơi và trong mọi thứ và mọi người. Đó là một thế giới hòa bình tự nhiên, rực rỡ hiện diện ở khắp mọi nơi (một khi bạn biết cách nhận ra nó), chứ không phải hòa bình thu mình vào một nơi ốc đảo tôn nghiêm. Đó là một cái gì đó tự nhiên thiêng liêng, cuối cùng là thuần khiết và rạng rỡ với những phẩm chất vô lượng của tình yêu phổ quát, lòng từ bi phổ quát và sự vươn xa không thể hiểu được, giúp chúng sinh đến tận cùng tịnh giới. Bởi vì nó quá cao siêu, quá xa vời và quá nhiều ngoài sức tưởng tượng, chúng ta gọi nó là Niết bàn không thể nghĩ bàn hoặc không định vị được trong mọi sự vật của thế giới này cũng như trong thiền định an lạc niết bàn của vị A La Hán, vì niết bàn của La Hán chúng ta có thể xác định rất rõ ràng, về phương diện thiền định.

Tôi thực sự hy vọng rằng khi bạn hiểu điểm này về sự khác biệt giữa hai nirvanas. Nếu bạn làm vậy, nó sẽ làm sáng tỏ sự nhầm lẫn được tạo ra trong các cuốn sách về Phật giáo, trong đó họ nói rằng Bồ tát từ bỏ niết bàn để giúp đỡ chúng sinh khác. Có vẻ như ai đó đã từ bỏ kỳ nghỉ của mình để ở nhà phụ giúp gia đình. Hay như một người nào đó trong tù có thể được trả tự do nhưng không hiểu sao lại phải phạm thêm tội để ở trong và giúp đỡ bạn tù. Đây thực sự là một sự hiểu lầm. Đúng là bồ tát từ bỏ một loại niết bàn (loại có chữ “n” nhỏ, của con đường hinayana – bình an nội tâm) nhưng điều này là bởi vì người đó đang đi một con đường hoàn toàn khác để hướng tới một Niết bàn khác: đó của Đức Phật: sự bình yên của tâm từ bi, toàn trí. Niết bàn với chữ “N” viết hoa.

Cách duy nhất để đạt đến Niết bàn này của Đức Phật – thường được gọi là Phật tính – là thông qua lòng từ bi hoàn hảo. Từ bi liên quan đến việc tiếp xúc sống động với nỗi đau khổ của thế giới, đối mặt với nó và làm tất cả những gì có thể để loại bỏ nó. Hơn nữa, ở đây người ta không tắt các giác quan mà là giải phóng chúng. Có một cách diễn đạt rất hay trong Cơ đốc giáo, nó giải thích chính xác những gì mà vị bồ tát đang làm: ở trong thế gian nhưng không ở thế gian. Lấy ví dụ công việc của giáo viên tiểu học. Các em cần khéo léo bước vào thế giới của những đứa trẻ 5 và 6 tuổi. Họ cung cấp cho những đứa trẻ nhỏ bé này những kỹ năng tuyệt vời về đọc, viết và làm toán. Không có nghĩa là họ phải trở nên trẻ con và từ bỏ tuổi trưởng thành. Họ hoạt động trong thế giới của những đứa trẻ nhỏ nhưng không phải là chính họ thuộc thế giới đó.

Một người nào đó cống hiến cuộc đời này và tất cả các kiếp tương lai để đạt được bản chất phổ quát này, tức là Phật quả và giúp hàng triệu chúng sinh giảm bớt đau khổ được gọi là bồ tát. Bodhi nghĩa là Phật và sattva có nghĩa là tâm trí, với ý nghĩa là một tâm trí kiên định và can đảm. Vì vậy, một vị bồ tát là người có dũng khí và quyết tâm trở thành một vị Phật. Từ La Hán có nghĩa là người đã chiến thắng kẻ thù, “kẻ thù” là sự si mê về nhân cách và tất cả những ham muốn và nghịch cảnh mà nó tạo ra.

Con đường của bồ tát liên quan đến điều gì? Đầu tiên, tất cả cùng một công việc thanh lọc tâm trí như con đường hinayana. Dù theo con đường Phật giáo nào, mọi dấu vết của ham muốn ích kỷ, sân hận, ghen tị, kiêu ngạo và mê muội đều phải được loại bỏ khỏi tâm trí. Bạn sẽ nhớ rằng – theo cách hinayana – nó được thực hiện ngày càng tinh tế của thiền định. Tâm trí rút khỏi các giác quan, rút ​​khỏi tất cả những gì thuộc thế gian và đi sâu vào nội tâm. Bồ tát không cần phải rút lui khỏi thế gian mà thay vào đó đối mặt với thế gian, học hỏi từ thế gian và thông qua phản ứng của chính mình đối với nó. Sân hận được chuyển hóa thành tình yêu. Sự ghen tị được biến đổi thành một niềm vui chân thành, vui mừng trước thành quả của người khác. Niềm kiêu hãnh được chuyển thành nhận thức về sự giống nhau của tất cả chúng ta, trước những gì là vĩnh cửu, vân vân và vân vân.

Công việc – chuyển hóa cảm xúc – có thể thực hiện được nhờ thiền định, vì chỉ thiền định mới mang lại cái nhìn rõ ràng về cách thức hoạt động của tâm trí. Bạn biết đấy, nếu bạn muốn sửa chữa một cái gì đó, trước tiên bạn cần biết nó hoạt động như thế nào. Thiền giúp chúng ta khám phá cách thức hoạt động của tâm trí con người. Các thực hành thiền định của Bồ tát được cấu trúc khác với các thực hành của con đường hinayana. Ngoài ra, có rất nhiều người trong số họ, như đã đề cập trước đây, bồ tát không chọn niết bàn (với một chữ “n” nhỏ) của con đường hinayana và bồ tát rất cẩn thận để không bị lôi cuốn vào sự tĩnh lặng nội tâm tuyệt đẹp của nó. Một trong những phương pháp chính để thực hành điều này là suy nghĩ đúng đắn hoặc cầu nguyện.

Trong các tôn giáo khác, mọi người cầu nguyện với một hoặc nhiều vị thần, trông cậy sự giúp đỡ của họ. Trong Phật giáo, lời cầu nguyện không nhắm đến một sinh vật bên ngoài. Cầu nguyện là một cách để thay đổi tâm trí. Bằng cách lặp đi lặp lại những suy nghĩ tốt đẹp, chân thành từ sâu thẳm trái tim, chúng trở thành lối suy nghĩ theo thói quen. Họ thay đổi suy nghĩ. Cuối cùng, cách một người phản ứng với các tình huống của cuộc sống sẽ trở nên rất khác biệt, chỉ qua việc cầu nguyện liên tục. Lời cầu nguyện chính của bồ tát là cam kết giúp đỡ tất cả chúng sinh, bằng cách đạt được sự viên mãn của Phật quả. Tại sao? Đức Phật chỉ là một con người. Tất cả những gì Ngài có là ba chiếc áo cà sa, một chiếc bát ăn xin và một hoặc hai đồ vật nhỏ. Nhưng, thông qua sự trong sạch và trí tuệ sâu sắc của mình, Ngài đã có thể giúp đỡ hàng chục nghìn người trong suốt cuộc đời của mình và hàng ngàn triệu người sau khi nhập diệt, thông qua những lời dạy sâu rộng, chỉ cho mọi người cách tự giúp mình. Vị bồ tát ghi nhớ điều này. Một người giúp đỡ hàng triệu người chỉ đơn giản bằng cách đạt được một tâm trí hoàn hảo. Vị Bồ tát biết rằng cách tốt nhất để giúp đỡ người khác là trở nên hoàn toàn trong sáng, hoàn toàn sáng suốt và hoàn toàn khéo léo trong việc hướng dẫn người khác trên con đường, giống như Đức Phật. Nhiều lần trong ngày, bồ tát hiến dâng cuộc đời của mình cho mục đích này, trong lời cầu nguyện, và cố gắng làm mọi công việc hàng ngày – ngay cả pha một tách trà – với tâm tràn đầy tình yêu thương đối với tất cả chúng sinh khác và khao khát sâu sắc để đạt được Phật tính.

Nhưng khao khát đạt được điều gì đó thôi vẫn chưa đủ. Người ta phải thực sự hành động. Tôi có thể đứng ở đây nhiều năm, khao khát được đến Hawaii, nhưng tôi sẽ không nhúc nhích một cự ly nào. Người ta cần kiếm tiền, mua vé, mua quần đùi rộng thùng thình, đến sân bay, bắt máy bay, vân vân và vân vân. Bồ tát phải làm gì để thực sự trở thành một vị Phật thường được mô tả qua sáu điều. Đây giống như sáu phần của một câu đố. Khi tất cả chúng hoàn chỉnh và kết hợp hoàn hảo với nhau, câu đố về Phật tính đã hoàn thành.

  1. Sự hào phóng tuyệt đối (Bố thí ba la mật).
  2. Hạnh kiểm đúng đắn tuyệt đối (Giữ giới ba la mật).
  3. Nhẫn nhịn tuyệt đối (Nhẫn nhục ba la mật).
  4. Sự siêng năng tuyệt đối (Tinh tấn ba la mật).
  5. Thiền định hoàn hảo (Thiền định ba la mật).
  6. Trí tuệ hoàn hảo (Trí huệ Bát nhã ba la mật).

Sáu điều này được gọi là sáu ba-la-mật hay sáu viên mãn siêu việt. Bạn sẽ lưu ý rằng tôi đã cố gắng không sử dụng tiếng Pali hoặc các từ nước ngoài khác trong bài nói này. Chúng ta chỉ cần sử dụng chúng khi chúng ta không có thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh. Tôi biết rất nhiều về điều này vì công việc trong đời của tôi là dịch kinh sách từ tiếng Tây Tạng.

Nhiều vị thầy mong muốn bạn biết những từ như anicca hoặc dukkha, nhưng tôi nghĩ không phải trường hợp nào cũng cần thiết. Chúng ta có những từ hoàn toàn tốt cho những từ này bằng tiếng Anh – vô thường và đau khổ – nhưng tại sao bạn nên học từ tiếng Pali, hay tiếng Phạn? Dù sao, paramita là một từ không có từ tương đương trực tiếp trong tiếng Anh và vì vậy nó rất hữu ích khi sử dụng tiếng Phạn.

Nghĩa đen của nó là “đã sang bờ bên kia”. Điều này là do khi tất cả sáu phẩm chất này đã được hoàn thiện tuyệt đối, người ta đã vượt qua đại dương của sự tồn tại trên thế gian (luân hồi) và đạt được bến bờ bên kia của Phật quả. Chúng ta có thể nhìn nó theo cách khác. Phật là gì? Ai đó trong tâm trí của người mà sáu điều này là hoàn toàn, hoàn hảo bất diệt.

Tại sao vị bồ tát làm việc với tâm của mình theo một cách khác với hinayana? Chúng ta hãy so sánh bản chất phổ quát này – của tình yêu, lòng từ bi và trí tuệ ở khắp mọi nơi và cái mà chúng ta gọi là Phật tính – với một ánh sáng rực rỡ. Mặc dù ánh sáng này có trong mỗi chúng ta, nhưng nó không thể tỏa sáng vì bị che khuất. Có hai lớp che phũ:

  1. Đầu tiên được gọi là klesha trong tiếng Phạn. Điều này thường được dịch là chất độc tâm trí, hoặc ô nhiễm. Hôm nay tôi đã đề cập đến nó một vài lần rồi: nó bao gồm ham muốn ích kỷ, hung hăng, ghen tị, kiêu ngạo và thiếu hiểu biết. Tất cả những cảm giác này nảy sinh thông qua những ảo tưởng tiêu cực về nhân cách – những cách có hại mà người ta định nghĩa về bản thân – Tôi phải có, tôi không thể chịu đựng được, tôi phải có những gì anh ta có, tôi tốt hơn cô ấy, v.v. Trong Con đường hinayana, một con đường loại bỏ tất cả những ý tưởng ảo tưởng về bản thân và điều này loại bỏ lớp phủ đầu tiên qua ánh sáng của sự thật. Đơn giản bằng cách làm điều đó, người ta không còn cần phải hành động ích kỷ, do đó không có nghiệp xấu và vì vậy người ta chấm dứt chu kỳ tái sinh vào cõi luân hồi và cuối cùng trở thành một vị A La Hán.
  2. Lớp che phủ thứ hai, sự tắc nghẽn hoặc tấm màn che là một cái gì đó tinh vi hơn nhiều. Để đơn giản, chúng ta có thể gọi nó là “tính hai mặt” (nhị nguyên). Đó là trò chơi từng giây từng phút của tâm trí chúng ta, thứ liên tục xác định không chỉ bản thân chúng ta mà còn cả thế giới xung quanh chúng ta. Nó giống như một phần của lập trình tư duy tạo ra, thứ hai sau thứ hai, một bộ phim hai mặt: tôi và bạn, bản thân và người khác, của chúng ta và của họ, cơ thể tôi và thế giới mà nó chuyển động, tâm trí tôi và cơ thể tôi, v.v. Chính nhờ những quá trình ý thức và tiềm thức này mà chúng ta xác định bản thân và thế giới của chúng ta: cha mẹ, bạn bè, kẻ thù của chúng ta, mọi chi tiết của cuộc sống.

Mỗi chúng ta đều có cách nhìn và cách xác định thế giới hoàn toàn độc đáo của mình. Mỗi chúng ta di chuyển trong vũ trụ duy nhất của riêng mình. Trong con đường đại thừa, người ta không chỉ cần thấy vô ngã – rằng những ảo tưởng của chúng ta về bản thân là không có chân lý – mà còn phải xem những ảo tưởng của chúng ta về người khác và những thứ khác cũng không có chân lý như thế nào. Xuyên qua những ảo ảnh và nhìn thấy sự thật thô sơ của vũ trụ được gọi là khám phá sự hư vô của nó (sunyata). Chúng ta nói sự trống rỗng bởi vì chúng ta phát hiện ra rằng những người khác và những thứ khác không có những ảo tưởng mà chúng ta đã chiếu lên họ – như đột nhiên nhận ra rằng ảo ảnh chỉ là một ảo ảnh quang học và không phải là nước thật trên đường hoặc giống như nhận ra rằng ai đó mà bạn cho là không thú vị trên thực tế là khá tuyệt. Một phần của việc khám phá ra tính không liên quan đến vô ngã (anatta) được phát hiện trong con đường hinayana. Nhưng nó chỉ là một phần. Chỉ bằng cách khám phá ra vô ngã, người ta trở thành một vị A La Hán. Bằng cách khám phá toàn bộ sự thật về mọi thứ, sunyata, một người trở thành một vị Phật.

Một cách đơn giản để đặt vấn đề có thể là thế này: vị La Hán vượt qua mọi ảo tưởng liên quan đến bản thân và do đó hoàn toàn an lạc với chính mình. Vị Bồ tát đang vượt qua mọi ảo tưởng không chỉ về bản thân mà còn về tất cả những người khác và toàn thể vũ trụ và do đó được an lạc với mọi điều. Bằng cách phá hủy mọi ảo tưởng, bồ tát trở thành một vị Phật, biết tất cả những gì cần biết.

Trong sáu ba la mật, công việc chính của việc khám phá ra tính không được hoàn thành thông qua sự kết hợp của ba la mật thiền định và ba la mật trí tuệ. Phần thứ hai của – wisdom paramita – này được gọi là prajnaparamita trong tiếng Phạn. Nó cực kỳ quan trọng trong Phật giáo Đại thừa và có nhiều văn bản phiolosophic khổng lồ giải thích ý nghĩa của tính không. Mặc dù có rất nhiều văn bản, sự thật của tính không chỉ có thể được khám phá trực tiếp, trong thiền định, vì nó vượt qua mọi tư tưởng và triết học.

Khi sáu ba-la-mật – bố thí, đức hạnh, nhẫn, siêng năng, thiền định và trí tuệ – hoàn thành, ý nghĩa thực sự của từ Phật trở nên rõ ràng.

Khi bắt đầu, Đức Phật chỉ đơn giản có nghĩa là một người nào đó: một nhân vật lịch sử, người đã ban cho chúng ta những giáo lý nhà Phật. Nhưng thời gian trôi qua, người ta nhận ra rằng Đức Phật Thích Ca lịch sử chỉ đơn giản là đạt được một điều gì đó mà tất cả mọi người, một ngày nào đó, trong cuộc sống này hay cuộc đời khác, sẽ đạt được. Những gì Ngài khám phá nằm bên trong mỗi người chúng ta. Đó là bản chất thực sự của chúng ta, Phật tính của chúng ta. Điều này không có nghĩa là mỗi người trong chúng ta thực sự là một hoàng tử Ấn Độ! Nó có nghĩa là có một tình yêu tuyệt đối, lòng từ bi tuyệt đối, trí tuệ vô hạn và khả năng tuyệt vời để giúp đỡ và hướng dẫn người khác, luôn bị giam giữ trong mỗi chúng ta. Nó là ánh sáng bên trong. Chúng ta chỉ cần tìm ra nó và loại bỏ tất cả các lớp ảo ảnh bao phủ nó và ngăn chặn sức mạnh của nó.

Hôm nay, tôi đã nói ngắn gọn – và rất nhanh – về ba nhân cách lý tưởng. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là những sinh vật khác là vô giá trị. Chỉ là ba loại này sống cuộc sống giúp bản thân trưởng thành như một con người và họ giúp ích cho thế giới. Khi Đức Phật đến hành tinh của chúng ta, Ngài đã đến, giống như tất cả các vị thầy tâm linh vĩ đại, để giúp đỡ tất cả mọi người, không chỉ riêng Phật tử. Hiểu rằng “duy ngã độc tôn”, Ngài ấy đã dạy mọi người theo nhu cầu mỗi cá nhân. Hôm nay tôi đã nói đến ba nhân cách ý tưởng: người Phật tử tại gia và những người dấn thân sâu sắc vào con đường của A La Hán và Bồ tát. Nó không phải là một cách tốt hơn cách kia. Chúng chỉ là những cách khác nhau phù hợp với những người khác nhau.

Hôm nay tôi không nói về khía cạnh “xã hội học” của Phật giáo: chùa chiền khác nhau, phong tục hôn nhân khác nhau, v.v… Đây chỉ đơn giản là lớp vỏ bên ngoài của một đức tin. Chúng là quần áo mình mặc. Đức tin thực tế là một loạt các niềm tin và thái độ tử tế đối với cuộc sống, đối với bản thân và người khác. Chúng tạo thành hình thái đúng đắn của tôn giáo. Đúng là một số quốc gia Phật giáo làm nổi bật điểm này, trong khi những quốc gia khác đã đánh mất nền tảng hoặc biến mất. Mặc dù tôi có thể đã dành toàn bộ bài giảng để mô tả sự phát triển về địa lý và lịch sử của Phật giáo. Thay vào đó, tôi chọn phác thảo tâm lý của những mắc xích chính này của Phật giáo và cố gắng giải thích cách Đức Phật từng cố gắng giúp mọi người thông qua ba cách tiếp cận này.

Đức Phật thường dùng cách suy của một bác sĩ để mô tả về chính mình. Những lời dạy của Ngài giống như thuốc chữa bệnh, tâm bất tịnh và nghiệp chướng của chúng ta giống như bệnh tật. Ba cách này phù hợp với các loại khác nhau cũng giống như các loại thuốc khác nhau phù hợp với các bệnh khác nhau. Có thể nói thuốc chữa bệnh tim tốt hơn thuốc chữa bệnh thấp khớp không? Dĩ nhiên là không. Liệu việc đưa thuốc trị thấp khớp cho bệnh nhân tim có ích lợi gì không? Dĩ nhiên là không. Ba cách sống và thiền định này phù hợp với nhiều loại người khác nhau. Khi ai đó đến tu viện của chúng tôi ở Dumfriesshire để tu tập, chúng tôi sử dụng cả ba loại tùy theo mỗi cá nhân.

Trên thực tế, khi bạn nhìn kỹ, bạn sẽ thấy rằng – bên cạnh việc biểu thị các loại – ba tâm lý này thường tồn tại song hành với nhau gần như với tất cả chúng ta. Một phần trong chúng ta rất muốn được như vậy, một phần khác tìm kiếm một sự bình yên bên ngoài những thú vui đang trôi qua của thế giới này và một phần khác trong chúng ta tìm kiếm con đường để thực sự phục vụ và giúp đỡ những chúng sinh khác tìm thấy con đường giải thoát. Tôi muốn kết thúc bằng cách bày tỏ sự tôn trọng sâu sắc của tôi đối với tất cả những điều tốt đẹp mà cả ba loại con người có giá trị đạt được và bằng cách nói rằng tôi nghĩ Đức Phật đã vô cùng sáng suốt và có tầm nhìn rộng trong việc cung cấp vô số lời khuyên liên quan đến ba cách này, những lời dạy chứa đầy hơn một trăm cuốn sách, trong suốt 45 năm giảng dạy của Ngài.

______________________________

[1] Śrāvaka (tiếng Phạn) hoặc Sāvaka (tiếng Pali) có nghĩa là “người nghe” hay nói chung là “đệ tử”. Thuật ngữ này được sử dụng trong Phật giáo và Kỳ Na giáo. Trong Phật giáo, thuật ngữ này đôi khi được dành cho những đệ tử ưu tú của Đức Phật.

 

The Ways of the Arhat
and the Bodhisattva

By Ken Holmes

It is a great pleasure to be asked to speak to you today about the two main traditions of Buddhism: those of the so-called hinayana and mahayana : the lesser way and the greater way, the ways of Shravaka to become an Arhat and the way of the Bodhisattva to become a Buddha.

Oh dear! Lots of foreign words – shravaka, arhat, bodhisattva- 30 seconds into the talk and you might already feel like going home!

Well, let’s try to explain these terms simply, before going into the details. Most religions are about the relationship between you, the individual, and God or, in the case of some religions, between you and a whole series of Gods. This God or these Gods are believed to be the governing power of the universe: creator of the universe. Buddhism is different. It has no belief at all in a creator God.

All of Buddhism is about working with the potential that exists in the human mind. Not about a relationship with another being, a Supreme Being, but about understanding and changing oneself. It is about awakening to the possibilities of life and in particular about using this extraordinary thing -which is our own mind- to the full: to become a wiser, kinder, more peaceful person. Buddhism believes that there is a timeless, perfect purity, a profound love for all beings, a perfect peace and amazing wisdom deep within each and every one of us. Life’s task is to discover it.

The Buddha taught very extensively about the nature of life and our human potential. He taught to thousands of people over a 45 year period. He taught each person according to his or her needs and capacities. Over the two and a half thousand years since he taught, all of those teachings of the Buddha have given rise to two main ways of working with one’s life, known as the Greater Way and the Lesser Way.

Those following the Lesser Way -Hinayana- want to find perfect inner peace and want to live in a kind, truthful and generous way in the world. They are sometimes called Shravakas: Shravakas means those who heed the teachings. They have a certain “been there, done that” feeling about most of the pleasures of this world and are no longer interested in them one bit. You know, the way you feel about whatever was the craze three years ago – it just doesn’t grab you any more. These Shravakas see the world as obsessed with satisfying the senses to find happiness -seeing beautiful things, hearing nice sounds, smelling pleasant odours, tasting good food and seeking pleasant physical sensations. They consider such happiness too shallow, too fragile and find great inner strength instead in meditation. The end of their journey, their dream, their goal -the perfection of inner peace- is called the state of being an Arhat. Sometimes you can achieve that state in one lifetime of intense meditation, sometimes it takes many lifetimes.

Those following the Greater Way -Mahayana- are called Bodhisattvas: bodhi -sattva means with a mind to be Buddha. They are people who are also very aware of life’s fragile happiness and the suffering that exists in most people. They are so moved by this suffering that they promise, from the depths of their hearts, to dedicate this life and all future lives to caring for other beings. They feel that the best way to care is to become just like the Buddha. Buddhahood is a state far beyond that of the Arhat. It takes hundreds of lifetimes -hundreds of reincarnations- to achieve. The bodhisattva way is based upon truthfulness, peace and non-violence but its main characteristic is not a withdrawal from the world into inner peace but an active engagement with the world, a development of incredibly deep loving kindness, compassion and care for others. In fact, from beginning to end, the Bodhisattva’s way is the way of compassionate care.

So that you are clear about ‘where I’m coming from’, you should know I belong to the mahayana tradition and that I’ll be teaching today’s topic in the traditional way in which it is presented in the mahayana.

Please have a good look at these terms – they’ll come up a few times in the talk. Please notice that shravakas and bodhisattvas are those following a spiritual path, and that the ends of those paths are the states of Arhat and Buddha. Having introduced these two main strands of Buddhism very briefly, I’d like to go into them more deeply by talking about a topic traditionally called the three types of valuable human being, taught widely in India in the 11th century. They are called ‘valuable humans’ because -from a Buddhist point of view, in terms of Buddhist value judgements -they are really doing something with their lives: making a marked and definitive change to themselves, and perhaps other people, for the better. If you like, they can be considered the three sorts of audience for Buddhism or the three psychological types that Buddhist teachings address. This topic will help us understand where Arhats and Bodhisattvas fit in -they are the second and third types of valuable human- and help us define these words hinayana and mahayana.

The first type of valuable human being: the person who lives wisely in the world.

The vast majority of dedicated Buddhists (as opposed to people just born into a Buddhist culture and not strongly practising it) belong to this first type of valuable human being. They are not yet following the way of either the Arhat or the Bodhisattva. It is too soon. They are like children learning to walk. Shravakas and Bodhisattvas are like adults drive cars or pilot a plane. Unlike the Shravaka and Bodhisattva, this first type of valuable human is not yet ready to let go of its attachment to worldly things, in order to seek spiritual peace. The Buddha’s teachings can nevertheless still help them greatly. So really today’s talk could have been about three ways and been called the ways of the worldly Buddhist, the Arhat and the Bodhisattva.

How does the Buddha help the first sort of valuable human, the worldly Buddhist? By helping them live their lives according to principles based on the laws of karma. Karma means action and the laws of karma explain why things happen and how our actions determine our destiny. Everyone wonders why things happen. You know, you must have asked yourselves why you are you, different from the person sitting next to you. Why is there life’s exquisite beauty? Why are there life’s atrocious horrors? Most religions describe these things in terms of God’s purpose: divine forces are pulling the strings and pushing the buttons of life. Buddhism, by contrast, says that events are not God-created but the long-term consequences of our own action: actions as individuals and actions as groups. Buddhism says our actions make us what we are and make our world what it is.

The Buddha taught that nearly all the things we do, say and think have long-term consequences for their doer. What we are doing now is shaping our own future, in this life and lives to come. What we are now has been shaped by how we acted and reacted in the past. Remember that Buddhists believe this life to be just one in a long chain of lives, as we reincarnate over and over again. What we do in this life generates all the details of our future lives: who we meet, the way the environment changes, our health, our suffering, our happiness. When we live in a harmonious, helpful and wise way with each other now, this generates happiness for later. When we live in conflict, self-centredly and unwisely now, it stores up suffering for later.

Thus, if we protect and save life -in this life- then we ourselves will be born with long life and good health next time round. If we are generous and caring now, we will feel satisfied with our lot in the future life and be cared for by others. If we lead what Buddhism defines as a respectful, responsible life in one’s sexual relationships, we will find loving, caring and suitable partners in the next life and so on and so forth.

The Buddha gave many teachings about our actions – and in particular a very helpful list of the 10 main actions to avoid and the 10 to cultivate. These form the basis for Buddhist morality just as the 10 commandments do in the Judaeo-Christian traditions. I have listed these 10 in the printed version of this talk, which is also on the Web.

There is, of course, in the action of this first type of Buddhist, a fair degree of self-interest: a studied concern for one’s own worldly future. These are not Buddhists who desperately want to leave all worldliness and find the lasting peace of nirvana. If we use Shakespeare’s words, “To be or not to be…” then our first Buddhist customer is definitely not ready not to be. This person likes life, still wants to be someone, somewhere in the world but preferably would like to be a healthier, happier and more prosperous person in a better family and social environment than at present. Even if that does not look likely in this existence, they try to live according to the Buddha’s teaching on karma so that they will have a better time in the next life.In teaching the laws of karma – the cause and effects of our actions – the Buddha was not only trying to help people help themselves but also trying to make for a better society: one in which there is less violence, less dishonesty and greater respect for others.

Furthermore, our other two types of valuable human being -those following the ways of the Arhat and the Bodhisattva- emerge from this pool of good people. One day, one life, it is said, there will dawn in their minds a profound awareness of the extent of suffering that there is in the world and indeed in one’s own mind; then they become candidates for the ways of the Shravaka and the Bodhisattva.

The second type of valuable human being: the Shravaka, who shuns worldliness to attain nirvana; the nirvana of the Arhat.

Now we come to the second type of Buddhist or second type of valuable human being. These are people who -if we return to Shakespeare’s to be or not to be -no longer want ‘to be’ someone, somewhere. They have understood that there is a deep, spiritual state of equanimity and peace, far more satisfactory than anything this world can offer. You know, it’s as though you’ve been in a smoky, noisy, crowded room all your life and suddenly you discover the vast, clean open spaces of nature. The crowded, smoky room is a busy, worldly mind. The purity and freshness is discovered in the inner space of meditation. It is a peaceful, infinite space which transcends personality and the cult of personality – you know what I mean by cult of personality, where ME, I is all important – a world in which you have to assert yourself, create territory, be beautiful, be intelligent, BE …someone.

Our second type of valuable human being has had enough of seeking the pleasures of the senses and of having a happiness that always depends on external things: on other people, on the weather, on food, on sights, on sounds, on success at work, on human affection etc. They are shocked by the fragility and impermanence ( anicca) of such happiness and by the price-tag of suffering ( dukha) that goes along with it. They know that the Buddha and the Arhats of the past managed to stopped being reborn into lives of mixed happiness and suffering. How did they do it? By stopping doing the harmful actions – karma- that generate rebirth. How to stop these harmful actions? By getting rid of their cause: anger, jealousy, pride, ignorance and desire. How to get rid of all those? by destroying their cause: the illusion of self, of ME of I.

These saintly beings cleanse their mind of all these unhelpful emotions, feelings and illusions and instead cultivated very natural states of inner peace and harmony. The advantage of this inner happiness is that it does not depend on other people and external things. It is a state of constant well-being which does not depend upon the up-and-down world of personality and feelings. It is self-contained. It is free of suffering. When it is perfected, it will remain forever. It is called nirvana. This is what the Shravaka hopes to achieve.

At this point, I think it will be useful to clarify the meaning of this word nirvana. Nirvana is not something in particular: not something that is . Nirvana means “suffering transcended”. In other words, it is defined by what it isn’t: it isn’t suffering. It means that you have got free from suffering forever. It is like saying, “got out of the fire”. One is no longer being burnt by the sufferings of life. But this does not tell us where we actually are: in a swimming-pool, up a mountain, in a space-capsule. It only tells us that we are out of the fire. So this word nirvana can cover many possibilities. This will become important when we look at the way of the bodhisattva. We will find that the bodhisattva is trying to achieve a much higher nirvana than that of the Arhat. Both are nirvana inasmuch as both have gone beyond the suffering of the world because both have ceased creating the karma that causes suffering. But the bodhisattva aims to become a Buddha and a Buddha has far more qualities than an Arhat and has removed more blockages from the mind.

To give an analogy: if we think of worldliness as the planet Earth, the Arhat has gone beyond the Earth’s gravitational field and is floating in the space of meditation. The Buddha has also gone beyond the Earth’s gravity but has reached the heart of the Sun of Wisdom.

Now let us return to the way of the Arhat. It consists of the Triple Training: Conduct, Meditation and Wisdom. I think you may know these. The basis for the Arhat’s path to the Arhat’s nirvana is a very pure ethical and moral conduct in all one says, all one does physically and also in one’s profession. In one respect, it is similar to the careful attention to karma of the first type of valuable human being. But the motivation is different. Here the pure conduct is aimed at switching off the video of life, not at making it into a better film! This different motivation channels things differently. It is like earning the same amount of money but investing it in another account. The Arhat’s good karma is not paying the worldly mortgage – it is going in to the permanent retirement fund.

On this basis of pure conduct, nirvana is achieved through the skilful combination of two things: meditation and wisdom. Let us first examine meditation.

Concentration meditation is the way in which those becoming Arhats overcome their passions, angers and other agitations of the mind. Concentration meditation cultivates inner peace. As the peace develops, desires, aggravations, and all these other things naturally diminish. As the peace grows, worldiness diminishes. It is like water. Let’s just think together for a minute. Has everyone seen a turbulent ocean? Try to imagine it: those vast, powerful, rolling grey-green waves Brrrr! You can’t see into it, it is busy, dangerous and it reflects nothing clearly. That’s the worldly mind: very agitated, very busy with itself, very short-sighted and very endless. Now let’s think of clear water – a very calm loch. Got the image? As water becomes calm, the waves subside. When water is calm, you can see all the fish and plants in its depths and it reflects the sky by day and the stars at night. The meditation mind is very still, clear and beautiful, like a very calm ocean. It has far-seeing wisdom.

As anger, desires and so on diminish through meditation, the peace becomes more lasting and more stable. This reveals levels of thought and subconscious activity of which one was not previously aware. Again and again, one refines the process of inner peace, until the mind is exceedingly clean and pure, knowing nothing but happiness and equanimity. A great, calm ocean of peace. Meditation requires careful training in mindfulness, concentration and channeling one’s effort.

Now let us consider wisdom. As meditation improves, the quietness and clarity of mind enables great precision in the mind’s self-knowledge. Just as our modern science pierces the secrets of the material universe through very fine investigation into the atom and into the human genome, the science of concentration meditation investigates the complex workings of the human mind and this knowledge is very helpful in transforming the mind and bringing it to stability and wisdom.This wisdom ends up being real insight into the Four Noble Truths, which lie at the very heart of the Buddha’s teaching. When I say ‘real insight’ I mean that the Four Truths are no longer ideas but things vividly, directly experienced as true, direct insight into life itself, without the need of thoughts. This gives you the “right view” of things -the right perspective- and provides the right intention for instructing other people.

I don’t want to get too technical in this talk. The Buddha’s own teachings -called sutra- on this topic of the way of the Arhat fill dozens of books. We could -for example- examine extensively the real meaning of the Eightfold Path that I have just described.

We could also explore (if we had time) how meditation actually changes the mind, bringing freedom and peace as well as the emergence of saintly qualities, which are quite extraordinary; miraculous.

Also, given time, we would explore the nature of wisdom in this path, seeing how it is anatta – a complete de-masking of all the delusions of self that the human mind can fabricate, whether it be a personal self or a cosmic self in the form of a God or a series of gods. This wisdom also recognises anicca – the totally transient, or impermanent, nature of the various phenomena of the worlds of mind and matter and understands in detail how they come together and trigger each other into making the events we perceive as life, with all of its suffering; dukkha.

The Hinayana mental journey of purification is a voyage deep into the inner peace of one’s mind. There are four main stages on the journey, with Arhat being the final stage.

1. Stream-entrant when one has profound faith in what one is doing because the results are emerging and the process is very obvious. If we compared the path of meditation to unblocking a drain, it is at this stage that -after poking for ages with the rods- the blockage clears and the water starts to flow swiftly.

2. Once-returner when one has purified so much of one’s mind and karma that there will be only one more rebirth in the world.

3. Non-returner when one is living that last life in which one becomes an Arhat

4. Arhat the final achievement when every trace, gross or subtle, of ego-delusion and its subsequent desires, anger, jealousy, pride and confusion are all irreversibly eliminated from the mind and the mind will rest continuously in deep, far-reaching meditation.

At this stage, I would like to sum up so far. We have looked at two types of what are called valuable human beings. Together, they make up what is known as the hinayana or the smaller way. I must make it clear that the term hinayana does not refer to the Buddhism of any particular country. It refers to the Buddhism suitable to a certain psychological type: a person who is working first and foremost for his or her own well-being. That person could be in Tibet, Sri Lanka or Scotland, following any school of Buddhism. Such people are not without love or compassion for others. It is just that they feel -quite pragmatically- that, in the end, we cannot change other people that much but that we can change ourselves and that self-transformation is our prime duty as human beings. So much of the world’s problems come through people trying to change each other but being unwilling or unable to change themselves.

Hina means smaller or lesser and Yana means the power to carry. Because these first two types of valuable human being can, at best, only take one person to liberation -that person being oneself- then their way is called the lesser way. It’s like a car with only one seat. We will see that the greater way aims to carry many people to liberation. It’s like a jumbo jet.

The third type of valuable human being: the bodhisattva, who works within the world, in order to attain the ‘non-situated’ Nirvana of the Buddha

The bodhisattva shares absolutely all the positive points of the hinayana follower: he or she recognises the futility and suffering of worldliness (samsara) and also knows that there is a much more elevated state to be achieved. But instead of wanting to make the Arhat’s journey deep into the mind’s peaceful recesses, the bodhisattva wants to become a Buddha, so as to be able to help thousands of other people free themselves from suffering. A Buddha is not only a great guide and friend for living beings: a Buddha’s attainment – the Buddha’s Nirvana- is far purer than that of the Arhat. It is in understanding the difference between their two “nirvanas” that one can clearly understand the different paths of the bodhisattva and the Shravaka.

In the printed version of this talk, I have spelt the Buddha’s Nirvana with a capital N and the Arhat’s nirvana with a small n. The Buddha’s nirvana is called non-situated Nirvana, because we cannot situate it:
1. either in samsara – the world
2. or in the profound inner peace of the Arhat’s nirvana.

The Buddha’s Nirvana -with a captial N- is therefore said to be neither samsara nor nirvana (with a small n). Here I’d like to remind you of the all-important point made earlier: nirvana simply and only means that all suffering has ended but not all nirvanas are the same.

Like all nirvanas, the Nirvana of the Buddha has transcended worldly suffering and the necessity of rebirth as someone, somewhere. But it is much, much more than the profound peace of the Arhat’s nirvana. The Buddha’s Nirvana is the total discovery of the timeless, perfect, heart-essence of the universe. It is everywhere and in everything and everyone. It is a natural, brilliant world of peace present everywhere (once you know how to recognise it), not the peace of withdrawal into an inner sanctum. It is something naturally sacred, ultimately pure and radiant with immeasurable qualities of universal love, universal compassion and an incomprehensible outreach, helping beings to the farthest ends of the universe. Because it is so sublime, so far-reaching and so much beyond the imagination, we call it the undefinable or unlocated or non-situated Nirvana which we can locate neither in the things of this world nor in the peaceful meditation of the Arhat’s nirvana. The Arhat’s nirvana we can, by contrast, define very clearly, in terms of concentration meditation.

I really hope that as you come to understand this point about the difference between the two nirvanas. If you do, it will clear up the confusion created in books about Buddhism, in which they say that the bodhisattva renounces nirvana in order to help other beings. It sounds almost like somebody giving up their holiday in order to stay at home to help the family. Or like someone in prison who could be released but somehow has to commit more crimes to stay inside and help the inmates. This really is a misunderstanding. It is true that the bodhisattva abandons one sort of nirvana (the one with a small ‘n’, that of the hinayana path – the inner peace) but this is because he or she is taking a quite different route towards a different Nirvana: that of the Buddha: the peace of the compassionate, totally-wise mind. Nirvana with a capital N.

The only way to reach this Nirvana of the Buddha -often called buddha nature-is through perfect compassion. Compassion involves being in living contact with the suffering of the world, facing it and doing all one can to eliminate it. Furthermore, here one is not shutting off the senses but liberating them. There is a very good expression in Christianity which explains exactly what the bodhisattva is doing: being in the world but not of the world. Take the work of primary school teachers, for example. They need to skilfully enter into the world of 5 and 6 year-olds. They give these tiny children the magnificent skills of literacy and numeracy. It doesn’t mean that they have to become childish themselves and renounce their adulthood. They operate in the world of small children but are not themselves of that world.

Someone who dedicates this life and all future lives to attaining this universal essence which is Buddhahood and helping millions of beings alleviate their suffering is called a bodhisattva. Bodhi means Buddha and sattva means mind, in the sense of a determined and courageous mind. Thus a bodhisattva is someone with the courage and determination to become a Buddha. The word Arhat means the one who has conquered the enemy, the “enemy” being the delusion of personality and all the desires and adversities it produces.

What does the bodhisattva’s path involve? First, all the same mind-purifying work of the hinayana path. Whichever Buddhist path one follows, every trace of selfish desire, anger, jealousy, pride and confusion must be eliminated from the mind.But the way in which these are eliminated by the bodhisattva is different. You will remember that -in the hinayana way- it is done by going ever more finely into the tranquil depths of concentration meditation. The mind draws away from the senses, draws away from all that is worldly and goes deep inside. The bodhisattva does not need to withdraw from the world but instead faces the world and learns through the world and through his or her own reactions to it. It is not so much a path of escape as one of transformation. Anger is transformed into love. Jealousy is transformed into a sincere joy, which rejoices in the achievement of others. Pride is transformed into an awareness of the sameness of us all, before what is eternal and so on and so forth.

This work-of transforming emotions- is made possible by meditation, as only meditation gives clear insight into how the mind works. You know, if you want to fix something you first need to know how it works. Meditation helps us discover how the human mind works. The bodhisattva’s meditation practices are structured differently from those of the hinayana path. Also, there are many more of them. As mentioned before, the bodhisattva is avoiding the nirvana (with a small ‘n’) of the hinayana path and the bodhisattva is very careful not to be drawn into its beautiful inner peace of meditation’s tranquillity. One of the main tools for doing this is right thought or prayer.

In other religions, people pray to a God or to several gods, asking for their help. In Buddhism, prayer is not addressed to an external, other, being. Prayer is an organised way of changing the mind. By repeating good thoughts, sincerely from the depths of one’s heart, over and over again, they become habitual ways of thinking. They change the mind. In the end, the way one reacts to life’s situations will be made very different, just through constant prayer. The main prayer of the bodhisattva is a commitment to help all beings, by achieving the perfection of Buddhahood. Why is this? The Buddha was just one person. All he had were three robes, a begging bowl and one or two small objects. Yet, through his purity and deep wisdom, he was able to help many tens of thousands of people personally during his own lifetime and many thousands of millions after his death, through his extensive teachings, which show people how to help themselves. The bodhisattva remembers this over and over again. One person helps millions simply by attaining a perfect mind. The Bodhisattva knows that the finest way to help others is to become totally pure, totally wise and totally skilful in guiding others on the path, just like the Buddha. Many times a day, the bodhisattva dedicates his life to this end, in prayer, and tries to do every daily task -even making a cup of tea- with a mind filled with compassionate love for all other beings and a deep longing to attain buddhahood.

But longing to achieve something is not enough. One must actually do the work. I can stand here for years, longing to go to Hawaii, but I won’t budge an inch. One needs to earn the money, buy the ticket, buy the baggy shorts, get to the airport, catch a plane and so on and so forth. What the bodhisattva has to do in order to really become a Buddha is usually described through six things. These are like six parts of a puzzle. When they are all complete and perfectly put together, the puzzle of Buddhahood is complete. What are they:

The six paramitas LINK
1. Perfect generosity.
2. Perfect right conduct.
3. Perfect forbearance (you could call this one patience or tolerance).
4. Perfect diligence.
5. Perfect meditation.
6. Perfect wisdom.

The six are called the six paramita or six transcendent perfections. You will have noted that I have tried not to use Pali or other foreign words in this talk. We only need to use them when we have no equivalent term in English. I know a lot about this as my own life’s work is translating scriptures from Tibetan. Your school examiners may want you to know words like anicca or dukkha but I cannot see the point too much. We have perfectly good words for these in English -impermanence and suffering- and why should you learn the Pali words, rather than the Sanskrit or the Japanese or the Tibetan? Anyway, paramita is a word without a direct equivalent in English and so it is useful to use the Sanskrit.

It literally means “gone to the other shore”. This is because when all these six qualities have been brought to an absolute perfection, one has crossed the ocean of worldly existence (samsara) and attained the other shore of Buddhahood. We can look at it another way. What is a Buddha? Someone in whose mind these six things are totally, immaculately perfect.Why does the bodhisattva work with his or her mind in a different way from the hinayana follower? Let us compare this universal essence -of love, compassion and wisdom which is everywhere and which we call buddha nature- to a bright light. Although this light is in each and every one of us, it cannot shine because it is covered up, blocked off. There are two layers of blockage:

1. The first is called klesha in Sanskrit. This is often translated as mind poisons or cankers or defilements. I have mentioned it a couple of times already today: it consists of selfish desire, aggression, jealousy, pride and ignorance. All of these feelings arise through the negative delusions of personality -the harmful ways in which one defines oneself- I must have, I can’t stand, I ought to have what he has, I’m better than she is etc. In the hinayana path one removes all such deluded ideas about self and this removes this first covering on the light of truth. By simply doing that, one no longer needs to act selfishly, therefore there is no bad karma and so one stops the cycle of rebirth after rebirth into worldly existence ( samsara) and eventually become an Arhat.

2. The second covering, blockage or veil is something much more subtle. For simplicity, we can call it “duality”. It is the split-second by split-second play of our minds, which is constantly defining not only ourselves but also the world around us. It is like a piece of mind-programming which produces, second after second, a two-sided movie: me and you, self and other, ours and theirs, my body and the world in which it moves, my mind and my body etc. etc. It is through these conscious and subconscious processes that we define ourselves and our world: our parents, friends, enemies, every detail of life.

Each of us has his or her totally unique way of seeing and defining the world. We each move in our own unique universe. In the mahayana path, one needs not only to see anatta – that our delusions about ourselves are de void of truth – but also to see how our delusions concerning other people and other things are also devoid of truth. Piercing through the illusions and seeing the raw truth of the cosmos is called discovering its voidness (sunyata). We say voidness because we discover that other people and other things are devoid of the illusions we have been projecting onto them – like suddenly realising that a mirage is just an optical illusion and not real water on the road or like realising that someone you have been assuming was uninteresting is in fact pretty cool. Part of the discovery of voidness concerns the non-ego (anatta) discovered in the hinayana path. But it is only a part. By only uncovering anatta, one becomes an Arhat. By uncovering the whole truth about everything, sunyata, one becomes a Buddha.One simple way of putting things may be this: the Arhat overcomes all illusions concerning himself and is therefore totally at peace with himself. The Bodhisattva is overcoming all illusions not only about himself/herself but also about all other people and the entire universe and is therefore at peace with everything. By destroying all illusions, the bodhisattva becomes a Buddha, knowing everything there is to be known. The Buddha is omniscient. The Arhat is extraordinarily wise but not ommniscient.

In the six paramita, the main work of discovering voidness is accomplished through a combination of the meditation paramita and the wisdom paramita. The second of these -wisdom paramita- is called prajnaparamita in Sanskrit. It is exceedingly important in mahayana Buddhism and there are many gigantic phiolosophical texts elaborating the meaning of voidness. Although there are so many texts, the truth of voidness can only be discovered directly, in meditation, as it transcends all thought and philosophy.

As the six paramita – generosity, right conduct, forbearance, diligence, meditation and wisdom – come to completion, the real meaning of the word Buddha becomes apparent.

At the start, Buddha simply meant someone: an historical figure who gave us the Buddhist teachings. But as time goes by, one realises that the historical Buddha Sakyamuni simply achieved something that everyone, one day, in one life or another, will achieve. What he discovered is inside each and every one of us. It is our true nature, our Buddha-nature. This does not mean that each of us is really, at heart, an Indian prince! It does mean that there is perfect love, perfect compassion, infinite wisdom and a great ability to help and guide others, locked up in each and every one of us. It is the inner light. We just need to find it and to remove all the layers of illusion covering it and blocking off its power.

This timeless light, universal peace or cosmic wisdom manifests in three ways, known as the three kaya.

1. This Buddha nature, just as it is and as only a Buddha will ever know it, is called dharmakaya. Dharmakaya is formless: that means it has no shape, colour, sound, smell or form whatsoever. It is a vast, cosmic wisdom: the wisdom of voidness

2. Bodhisattvas who are very saintly, who are no longer reborn in human worlds but have bodies of light, experience this buddha nature through the filters of their senses. Though it is formless, they see it as thousands of different Buddhas in various pure paradises. They hear it as deeply moving teachings expressing the universal laws of truth. The whole experience of their senses is an uninterrupted mental ‘movie’ of transcendent perfection. The way Buddha-nature appears in these bodhisattva’s minds is called sambhogakaya: the enjoyment body, meaning the visions and experiences of purity enjoyed
by saintly bodhisattvas.

3. More ordinary beings, who are still in the world of rebirth and suffering, also have an experience of Buddha nature. They will have religious experiences, perhaps see a Buddha or a being of light in a vision and so on and so forth. This happens in moments when the mind is pure and open. It doesn’t last and is not nearly so pure or so accurate as the experience of the bodhisattvas mentioned just now. The bodhisattvas’ experience is constant, never interrupted. Nevertheless, when worldly beings have experience of the Buddha mind, it is usually a remarkable moment which changes and shapes the whole of their life. This aspect of Buddha-nature or Buddha mind is called nirmanakaya: the emanated body.

Today, I have spoken briefly -and very quickly- about the three types of valuable human being. Of course, this does not mean that other beings are worthless. It is just that these three types live lives which help themselves mature as human beings and they help the world. When the Buddha came to our planet, he came, like all great spiritual teachers, to help everyone, not just Buddhists. Understanding that we are each unique, he taught everyone he met according to their individual needs and, in general, he helped the three psychological types. I have spoken of today as the three sorts of valuable human being: the everyday Buddhist and those deeply committed to the paths of the Arhat and the Bodhisattva. It is not that one way is better than the other. They are just different way suited to different people.

Today I have not spoken about the “sociological” side of Buddhism: its different temples, different customs for marriages etc. These are simply the outer shell of a faith. They are the clothes it wears. The actual faith is a series of beliefs and attitudes towards life, towards oneself and other people. They form the real body of the religion. It is true that some Buddhist countries accentuate some of these ways, while others have dropped into the background or disappeared. I could have spent the whole lecture describing the geographical and historical develoment of Buddhism. Instead I have chosen to sketch the psychology of these main strands of Buddhism and tried to explain how the Buddha was trying to help everyone through these three approaches.

The Buddha often used the analogy of a doctor to describe himself. His teachings are like medicine, our mind’s impurities and our karma are like the sickness. These three ways are suited to different types just like different medicines are suited to different diseases. Can we say a heart medicine is better than medicine for rheumatism? Of course not. Would ther be any point in giving the rheumatism medicine to the heart patient? Of course not. These three ways of living one’s life and meditating suit different types of people. When someone comes to our monastery in Dumfriesshire for training, we use all three types according to the individual.

In fact, when you look closely, you will see that -besides denoting types- these three psychologies often exist side by side in nearly all of us. One part of us wants very much to be, another part seeks a peace beyond the passing pleasures of this world and another part of us seeks the way to truly serve and help other beings find their way to liberation. I would like to conclude by expressing my profound respect for all the goodness achieved by all three types of valuable human being and by saying that I think the Buddha was extremely wise and broad-minded in providing such an immense spectrum of advice concerning these three ways, teachings filling over a hundred books, during the 45 years of his teaching

Leave a Reply