Này Ca-diếp, sự biến mất của Chánh Pháp vẫn chưa xảy ra chừng nào cái tương tợ Chánh Pháp chưa xuất hiện trên đời. Và này Ca-diếp, khi cái tương tợ Chánh Pháp xuất hiện trên đời thì lúc đó sự biến mất của Chánh Pháp xảy ra.
Ca-diếp, cũng giống như sự biến mất của vàng ròng vẫn chưa xảy ra chừng nào cái tương tợ vàng ròng chưa xuất hiện trên đời. Và này Ca-diếp, khi cái tương tợ vàng ròng xuất hiện trên đời thì lúc đó sự biến mất của vàng ròng xảy ra. Giống hệt như thế, Ca-diếp, sự biến mất của Chánh Pháp vẫn chưa xảy ra chừng nào cái tương tợ Chánh Pháp chưa xuất hiện trên đời. Và này Ca-diếp, khi cái tương tợ Chánh Pháp xuất hiện trên đời thì lúc đó sự biến mất của Chánh Pháp xảy ra.
Ca-diếp, không phải yếu tố đất làm Chánh Pháp biến mất, không phải yếu tố nước làm Chánh Pháp biến mất, không phải yếu tố lửa làm Chánh Pháp biến mất, không phải yếu tố gió làm Chánh Pháp biến mất. Nhưng khi NHỮNG KẺ NGU SI VÔ DỤNG ĐÓ xuất hiện ở ngay đây thì chúng làm Chánh Pháp này biến mất. Cũng thế, Ca-diếp, chiếc thuyền chìm ngay tức khắc; Ca-diếp, sự biến mất của Chánh Pháp không xảy ra như thế.
“Na tāva kassapa, saddhammassa antaradhānaṃ hoti, yā ca na saddhammapatirūpakaṃ loke uppajjati. Yato ca kho kassapa, saddhammapatirūpakaṃ loke uppajjati, atha saddhammassa antaradhānaṃ hoti. Seyyathāpi kassapa, na tāva jātarūpassa antaradhānaṃ hoti. Yā ca na jātarūpapatirūpakaṃ loke uppajjati. Yato ca kho kassapa, jātarūpapatirūpakaṃ loke uppajjati, atha jātarūpassa antaradhānaṃ hoti. Evameva kho kassapa, na tāva saddhammassa antaradhānaṃ hoti, yā ca na saddhamma-patirūpakaṃ loke uppajjati. Yato ca kho kassapa saddhamma-patirūpakaṃ loke uppajjati, atha saddhammassa antaradhānaṃ hoti. Na kho kassapa, paṭhavīdhātu saddhammaṃ antaradhāpeti na āpodhātu saddhammaṃ antaradhāpeti na tejodhātu saddhammaṃ antaradhāpeti. Na vāyodhātu saddhammaṃ antaradhāpeti. Atha kho idheva te uppajjanti moghapurisā ye imaṃ saddhammaṃ antaradhāpenti. Seyyathāpi kassapa, nāvā ādikeneva opilavati, na kho kassapa, evaṃ saddhammassa antaradhānaṃ hoti.” (~SN 16.13; PTS: S ii 223; CDB i 680.)
佛言:「如是,迦葉!命濁、煩惱濁、劫濁、眾生濁、見濁,眾生善法退減故,大師為諸聲聞多制禁戒,少樂習學,迦葉。譬如劫欲壞時,真寶未滅,有諸相似偽寶出於世間;偽寶出已,真寶則沒。如是,迦葉!如來正法欲滅之時,有相似像法生;相似像法出世間已,正法則滅。譬如大海中,船載多珍寶,則頓沈沒;如來正法則不如是漸漸消滅。如來正法不為地界所壞,不為水、火、風界所壞,乃至惡眾生出世,樂行諸惡、欲行諸惡、成就諸惡,非法言法、法言非法、非律言律、律言非律,以相似法,句味熾然,如來正法於此則沒. (~T2n99_32)
“There is no disappearance of the true Dhamma as long as a counterfeit of the true Dhamma has not arisen in the world, but there is the disappearance of the true Dhamma when a counterfeit of the true Dhamma has arisen in the world. Just as there is no disappearance of gold as long as a counterfeit of gold has not arisen in the world, but there is the disappearance of gold when a counterfeit of gold has arisen in the world, in the same way there is no disappearance of the true Dhamma as long as a counterfeit of the true Dhamma has not arisen in the world, but there is the disappearance of the true Dhamma when a counterfeit of the true Dhamma has arisen in the world. It’s not the earth property that makes the true Dhamma disappear. It’s not the water property… the fire property… the wind property that makes the true Dhamma disappear. It’s worthless people who arise right here [within the Sangha] who make the true Dhamma disappear. The true Dhamma doesn’t disappear the way a boat sinks all at once.” (~ Thanissaro Bhikkhu)
*
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo sẽ thành trong tương lai.
Những bài kinh nào do Như Lai thuyết, THÂM SÂU, NGHĨA LÝ THÂM DIỆU, XUẤT THẾ GIAN, LIÊN HỆ ĐẾN KHÔNG, họ sẽ không nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ không lóng tai; họ sẽ không an trú chánh tri tâm, và họ sẽ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải thấu đáo.
Còn những bài kinh nào do các thi sĩ làm, những bài thơ với những danh từ hoa mỹ, với những câu văn hoa mỹ, thuộc ngoại điển, do các đệ tử thuyết giảng, họ sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; họ sẽ lóng tai; họ sẽ an trú chánh tri tâm và họ sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các kinh do Như Lai thuyết, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến KHÔNG sẽ đi đến tiêu diệt.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập như sau: “Những bài kinh nào do Như Lai thuyết giảng, thâm sâu, nghĩa lý thâm diệu, xuất thế gian, liên hệ đến Không, chúng tôi sẽ nghe khi các kinh ấy được thuyết giảng; chúng tôi sẽ lóng tai; chúng tôi sẽ an trú chánh tri tâm. Và chúng tôi sẽ nghĩ rằng, các pháp ấy cần phải học thuộc lòng, cần phải học thấu đáo.” [Bản dịch của Hoà Thượng Thích Minh Châu]
Evameva kho, bhikkhave, bhavissanti bhikkhū anāgatamaddhānaṃ, ye te suttantā tathāgatabhāsitā gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṃyuttā, tesu bhaññamānesu na sussūsissanti, na sotaṃ odahissanti na aññā cittaṃ upaṭṭhāpessanti na ca te dhamme uggahetabbaṃ pariyāpuṇitabbaṃ maññissanti.
Ye pana te suttantā kavikatā kāveyyā cittakkharā cittabyañjanā bāhirakā sāvakabhāsitā, tesu bhaññamānesu sussūsissanti sotaṃ odahissanti aññā cittaṃ upaṭṭhāpessanti, te ca dhamme uggahetabbaṃ pariyāpuṇitabbaṃ maññissanti. Evametesaṃ, bhikkhave, suttantānaṃ tathāgatabhāsitānaṃ gambhīrānaṃ gambhīratthānaṃ lokuttarānaṃ suññatappaṭisaṃyuttānaṃ antaradhānaṃ bhavissati.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṃ sikkhitabbaṃ: ‘ye te suttantā tathāgatabhāsitā, gambhīrā gambhīratthā lokuttarā suññatappaṭisaṃyuttā, tesu bhaññamānesu sussūsissāma sotaṃ odahissāma aññā cittaṃ upaṭṭhāpessāma, te ca dhamme uggahetabbaṃ pariyāpuṇitabbaṃ maññissāma’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbanti.(~ S.ii,166)
如是我聞:一時,佛住波羅[木*奈]國仙人住處鹿野苑中。爾時,世尊告諸比丘:「過去世時,有一人名陀舍羅訶,彼陀舍羅訶有鼓名阿能訶,好聲、美聲、深聲,徹四十里。彼鼓既久,處處裂壞。爾時,鼓士裁割牛皮,周匝纏縛;雖復纏縛,鼓猶無復高聲、美聲、深聲。彼於後時,轉復朽壞,皮大剝落,唯有聚木。「如是,比丘!修身、修戒、修心、修慧,以彼修身、修戒、修心、修慧故,於如來所說修多羅甚深明照,難見難覺,不可思量,微密決定,明智所知,彼則頓受、周備受,聞其所說,歡喜崇習,出離饒益。當來比丘不修身、不修戒、不修心、不修慧,聞如來所說修多羅甚深明照空相應隨順緣起法,彼不頓受持,不至到受。聞彼說者,不歡喜崇習,而於世間眾雜異論、文辭綺飾、世俗雜句,專心頂受,聞彼說者,歡喜崇習,不得出離饒益。於彼如來所說甚深明照空相要法隨順緣起者,於此則滅,猶如彼鼓,朽故壞裂,唯有聚木。是故,諸比丘!當勤方便修身、修戒、修心、修慧,於如來所說甚深明照空相要法隨順緣起,頓受、遍受。聞彼說者,歡喜崇習,出離饒益。」 [~ 雜阿含經卷第四十七(一二五八)]
“Even so, Bhikkhus, will the Bhikkhus become in the future. And those discourses spoken by the Tathāgata, profound in meaning, transcendental, dealing with voidness, to these they will not listen when they are recited, they will not lend an ear, they will not set the heart upon final knowledge and will not consider that those things should be learned and mastered. But those discourses made by poets, poetry, mere beautiful words and phrases, spoken by outsiders and disciples, to these they will listen … they will consider that these things should be learned and mastered. Therefore, Bhikkhus, I say, you should train yourselves thus: ’Those discourses spoken by the Tathāgata profound in meaning, transcendental, dealing with voidness, to these we will listen when they are recited, we will lend an ear, we will set the heart upon final knowledge and we will consider that these things should be learned and mastered.’” (~ buddha-vacana.org)


