Phật Pháp Bốn Cấp: Bậc Sơ Thiện

(CHƯƠNG TRÌNH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ)
BIÊN TẬP: THÍCH MINH CHÂU, THÍCH THIÊN ÂN, THÍCH ĐỨC TÂM, THÍCH CHƠN TRÍ

B – BẬC SƠ THIỆN

1- BIẾT SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT THÍCH CA TỪ XUẤT GIA ĐẾN NHẬP DIỆT.
2- BIẾT SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ QUÁN THẾ ÂM.
3- BIẾT BA CHUYỆN TIỀN THÂN HAY MẨU CHUYỆN ĐẠO.
4- BIẾT BA NGÔI BÁU, BA PHÉP QUY Y, SÁU PHÁP HÒA KỈNH.
5- HIỂU Ý NGHĨA ĂN CHAY NIỆM PHẬT.
6- HIỂU VÀ THUỘC NGHI THỨC PHỔ THÔNG

_____________________________

LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA

(Từ xuất gia đến nhập diệt)

 

I. THÁI TỬ XUẤT GIA

Nửa đêm mùng 8 tháng Hai, Thái tử cùng Xa- nặc thắng ngựa Kiền-trắc, vượt cửa thành ra đi. Ngài đến sông A-nô-ma, rồi xuống ngựa, lấy gươm cắt tóc giao cho Xa-nặc đem tất cả đồ trang sức và ngựa về cung tâu với phụ vương rõ chí quyết định của Thái tử. Rồi Ngài cởi áo đổi cho một người thợ săn, cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời xa hoa vương giả, khoác chiếc áo hoại sắc, một mình một thân đi tìm đạo.

II. THÁI TỬ HỎI ĐẠO

Trước hết Ngài đi tìm hiểu và hành trì các đạo đang lưu hành trong nước, tìm xem có đạo nào là chơn chánh giải thoát cho muôn loài.

1. Thái tử hỏi đạo lần thứ nhứt: Thái tử đi lần đến thành Vương Xá đến hỏi đạo các vị Tiên ở rừng Bạc-già tu theo khổ hạnh để được làm Ma vương, Thiên thần, được thần thông. Thái tử nhận thấy tu theo khổ hạnh lên cõi Trời cũng sung sướng thật, nhưng hết phước rồi sẽ đọa vào các cõi đau khổ, chưa phải là đạo chơn chánh giải thoát.

2. Thái tử hỏi đạo lần thứ hai: Ngài từ giã các vị Tiên và đến phía Bắc thành Tỳ-xá-ly hỏi đạo ông A-la-la tu về Số luận chuyên nhiếp tâm vào định Sơ thiền v.v… để được sanh vào cõi trời Vô tưởng, đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô tưởng nhưng Ngài nhận thấy không phải là đạo giải thoát, nên Ngài từ tạ ra đi.

3. Thái tử hỏi đạo lần thứ ba: Ngài đến hỏi ông Uất-đầu-lam-phất, chuyên dạy các sự chấp trước có hình tướng hay không hình tướng đều là sai lạc, chỉ phải lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn vật mới được giải thoát và sanh về cõi trời Phi tưởng Phi phi tưởng xứ; Thái tử liền tu theo và chứng được Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.

III. THÁI TỬ TU KHỔ HẠNH

Thái tử ba lần hỏi đạo, biết rằng các đạo hiện hành không có đạo nào là chơn chánh giải thoát. Ngài tự nghĩ phải chính thân hành trì chuyên tu mới có thể tìm rõ đạo chánh. Ngài liền đến rừng Ưu-lâu-tần-loa phía Nam núi Tượng Đầu bên sông Ni-liên-thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm người bạn là Kiều-trần-như, Ác-bệ, Thập-lực Ca- diếp, Ma-ha-nam, Câu-ly và Bạc-đề. Ngài tu trong sáu năm, cương quyết hành hạ tự thân ép xác đến nỗi mỗi ngày chỉ ăn một hột gạo một hột mè. Ngài càng tu khổ hạnh, càng gầy mòn yếu ốm đến nỗi một ngày kia phải té xỉu chết giấc. Khi Ngài tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng hành hạ xác thân quá đáng không ích gì, người cầu đạo cần phải phát chiếu trí huệ mới mong được giác ngộ. Nghĩ thế Ngài nhứt định ăn uống như thường, để giữ lại cái thân làm lợi khí trong công cuộc tìm đạo giải thoát. Năm người bạn đồng tu thấy vậy tưởng Ngài thoái chí nên bỏ đi.

IV. THÁI TỬ THAM THIỀN

Khi ấy, một thiếu nữ tên Tu-xà-đề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền đem sữa đến dâng, Ngài dùng sữa xong, sức lực tinh phục, rồi xuống sông Ni-liên-thuyền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong Ngài liền đến dưới cây Bồ-đề, trải cỏ làm nệm và ngồi tịnh tọa tham thiền luôn trong 49 ngày. Ngài thề rằng: “Nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi cây Bồ-đề này”.

V. THÁI TỬ THÀNH ĐẠO

Ngài định tâm chuyên chú: Nhứt tâm mặc tưởng thiền vu. Các Ma vương sợ Ngài thành đạo

sẽ giác ngộ cho mọi loài bèn rủ nhau đến quyến rũ mê hoặc hại Ngài. Nhưng Thái tử định lực  cao cường, nên chiến thắng tất cả sự cám  dỗ  của Ma vương.

Đến đêm mồng tám tháng Chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh thấy rõ kiếp trước của mình của người; canh hai chứng quả Thiên nhãn minh giác ngộ hoàn toàn cùng khắp; canh ba chứng quả Lậu tận minh diệt trừ hết thảy mê lầm vô thỉ. Đến lúc sao mai vừa mọc, Ngài liền chứng đặng đạo Vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lúc bấy giờ, quả đất đều rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.

VI. ĐỨC PHẬT ĐI TRUYỀN ĐẠO

Khi Ngài mới chứng quả, Ngài còn ngần ngại chưa muốn đi truyền đạo ngay vì sợ đạo Ngài sâu xa khó hiểu. Nhưng sau Ngài quán rõ căn cơ và ứng dụng các phương tiện. Ngài mới cương quyết đem Đạo Phật ra giáo hóa chúng sanh.

Trước hết Ngài đến vườn Lộc Uyển, thuyết pháp Bốn Đế độ cho bọn ông Kiều-trần-như. Bắt đầu từ đó mới có đủ Phật, Pháp, Tăng ba ngôi báu.

Sau Ngài độ cho một thanh niên tên Da-xá và chỉ trong ba tháng Ngài có hơn 60 đệ tử. Dưới đây là một vài đệ tử có danh tiếng, do Đức Phật đã giáo hóa trong khi truyền đạo:

  • Ông Ca-diếp vị Tổ sư thờ lửa và các vị đồ đệ của ông.
  • Vua Tần-ba-ta-la xứ Ma-kiệt-đà.
  • Ông Mục-kiền-liên thần thông đệ nhứt và ông Xá-lợi-phất trí huệ bậc nhứt.
  • Ông Nan-đà, ông A-nan, ông Ưu-ba-ly và ông A-na-luật-đà.
  • Bà Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề là người đàn bà đầu tiên được Đức Phật cho vào Giáo hội.
  • Ông Tu-bạt-đà-la hơn 80 tuổi là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Đức Phật thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Ngài thường đi thuyết pháp trong 9 tháng nắng, còn các tháng mưa thì ở lại Tinh xá để chuyên tu.

VII. ĐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN

Đến ngày trăng tròn tháng Hai Ấn Độ, Ngài biết mình sắp nhập Niết-bàn, liền đến xứ Câu- thi-na, vào rừng Xa-nại, khiến treo võng nơi hai cây song thọ. Ngài hội họp các hàng đệ tử lại giảng dạy khuyên bảo lần cuối cùng rồi từ giã mọi người mà nhập Niết-bàn. Ngài hưởng thọ được 80 tuổi. Trước khi Ngài viên tịch, Ngài phú chúc cho ông Ca-diếp thọ lãnh y bát của Ngài để truyền đạo.

VIII. KẾT LUẬN

Đời Ngài từ lúc xuất gia đến lúc nhập diệt là cả một gương sáng tìm đạo, hành đạo, truyền đạo để cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ. Ngài cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời vương giả, dấn thân trong gian khổ để đi tìm đạo rồi lại chuyên tu khổ hạnh hơn sáu năm, tham thiền trong 49 ngày chứng quả; rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm để truyền đạo chơn chánh cứu khổ cho muôn loài.

Người mê sẽ nhờ học mà tỉnh, người ngu sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mới có thể sửa mình và chỉ đường cho mọi người.
KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ

SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
VÀ ĐỨC QUÁN THẾ ÂM

 

A- ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

I. DANH NGHĨA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Đức Phật A Di Đà là một Đức Phật làm giáo chủ ở cõi Tây phương Cực Lạc. Tên Ngài có ba nghĩa:

  1. Vô lượng quang: Nghĩa là hào quang trí huệ của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp các thế giới.
  2. Vô lượng thọ: Nghĩa là thọ mạng Ngài sống lâu không lường kể.
  3. Vô lượng công đức: Là Đức Phật A Di Đà làm những công đức to lớn không thể kể xiết.

II. SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Theo Kinh Đại A Di Đà, về thời Đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời, có một vị quốc vương tên Kiều-thi-ca. Vua Kiều-thi-ca nghe Đức Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm vị Tỳ- kheo hiệu là Pháp Tạng. Một hôm Ngài đảnh lễ Phật, quỳ xuống chắp tay cầu Phật chứng minh và phát 48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy sau này thành Đức Phật A Di Đà.

Lại theo Kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển luân Thánh vương tên Vô Tránh Niệm có vị đại thần Bảo Hải. Vị này có người con tên là Bảo Tạng tướng tốt dị thường, sau xuất gia thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm muốn cúng dường các món ăn uống y phục cho Đức Phật và đại chúng luôn luôn trong ba tháng. Vị Đại thần Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm Bồ-đề cầu đạo Vô thượng. Vua liền nguyện sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện xong, Đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho vua sau này sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước của Ngài sẽ là cõi Cực Lạc Tây phương. Vị Đại thần Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

III. HẠNH NGUYỆN ĐỨC PHẬT DI ĐÀ

Đức Phật A Di Đà là gương sáng của hạnh Thanh tịnh vì thân Ngài chói ngời ánh hào quang thanh tịnh sáng suốt, cõi Tịnh Độ của Ngài chói ngời các món trân bảo thanh tịnh sáng suốt và các chúng sanh ở trên cõi Cực Lạc hết thảy đều thanh tịnh sáng suốt. Đức Phật A Di Đà có phát 48 lời nguyện rộng lớn cứu độ tất cả chúng sanh, trong ấy có lời nguyện tiếp dẫn tất cả chúng sanh nào hướng niệm đến Ngài đều được vãng sanh lên cõi Cực Lạc. Ngài lại có nguyện nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài, đến 10 niệm Ngài cũng tiếp dẫn lên cõi Cực Lạc.

IV. LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ

Nước Việt Nam phần đông theo tông Tịnh độ nên thờ tượng Đức Phật A Di Đà. Tượng Ngài đứng hoặc ngồi trên tòa sen, tay phải duỗi xuống phóng hào quang, tay trái đè ngang bụng bắt ấn cam lồ. Tại các chùa, Đức Phật A Di Đà thờ chung với Đức Phật Thích Ca (bên phía tay mặt Đức Phật Thích Ca) và Đức Phật Di Lặc, có khi thờ một mình hay Đức Quán Thế Âm bên tay trái và Đức Đại Thế Chí hầu bên mặt Ngài, hai vị này trợ hóa cho Ngài bên cảnh Cực Lạc.

Thường năm đến ngày 17 tháng 11, các Phật tử làm lễ vía của Ngài. Trong khi gần lâm chung và khi đưa đám, hoặc khi cúng lễ thường niệm danh hiệu Ngài là hiệu thanh tịnh trong sạch để trừ những tà niệm, chuyển đổi cảnh đời ô trược thành cảnh giới thanh tịnh sáng suốt như cảnh giới Cực Lạc.

B- ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

I. Ý NGHĨA TÊN NGÀI

Đức Quán Thế Âm là một vị Bồ-tát thường hay quán xét tiếng đau khổ chúng sanh để cứu giúp nên gọi Ngài là Quán Thế Âm; lại do Ngài quán sát nghe mà giác ngộ tự tại cứu độ chúng sanh nên cũng gọi là Ngài Quán Tự Tại. Trong khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, Đức Quán Thế Âm thường trợ hóa cho Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc, và thường hầu bên tay trái Đức Phật A Di Đà.

II. LỊCH SỬ

Kinh Bi Hoa chép rằng: Về thời quá khứ. ngài Quán Thế Âm làm Thái tử con vua Vô Tránh Niệm, đồng thời có Đức Bảo Tạng Như Lai ra đời giáo hóa chúng sanh. Vua nghe Đức Phật thuyết pháp hiểu đặng đạo lý, phát tâm Bồ-đề mong sau thành Phật đặng cứu độ chúng sanh. Vua cúng dường Đức Phật và Tăng chúng luôn trong ba tháng. Thái tử cũng cúng dường và cũng tu như vậy. Vua Vô Tránh Niệm tu hành tinh tấn, đến khi công hạnh vẹn toàn thì thành Phật ở cõi Cực Lạc phương Tây hiệu là A Di Đà, Thái tử cũng công hạnh trọn đủ, cũng sanh về cõi ấy thành Bồ- tát hiệu là Quán Thế Âm, đặng cùng với Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sanh về cõi Phật.

III. HẠNH NGUYỆN CỦA NGÀI

Trong Kinh Phổ Môn, Đức Phật Thích  Ca Mâu Ni có nói về hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát là cứu độ chúng sanh thoát khỏi ba tánh tham, sân, si, nếu chúng sanh niệm đến danh hiệu Ngài. Đức Quán Thế Âm lại thường hiện thân vào tất cả từng lớp chúng sanh để cứu chúng sanh thoát khỏi các nạn tai ách. Hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm là tượng trưng cho hạnh Từ Bi và tất cả chúng sanh thường niệm danh hiệu Ngài là Nam mô Đại từ Đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ-tát, hay Nam mô Đại từ bi phụ Linh cảm Quán Thế Âm Bồ-tát.

IV. LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ

Vì Đức Quán Thế Âm có nhân duyên, cơ cảm với chúng sanh ở cõi Diêm-phù-đề này, nên Ngài rất được tôn thờ. Một khi có tai nạn gì xảy ra, mọi người liền niệm danh hiệu Ngài để nhờ Ngài cứu độ. Trong những thời kỳ binh đao tai nạn, mọi người thường hay ấn tống tượng Ngài để thờ hoặc để đeo. Người ta thường vẽ tượng Ngài bằng hình dáng phụ nữ tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài, bà mẹ hiền của chúng ta. Ngài cầm một cành dương liễu để tiếp dẫn chúng sanh và bình nước cam lồ để rưới tắt phiền não, đem lại nước trong mát cho mọi loài. Người ta vẽ Ngài đi trên hoa sen giữa bể cả ba đào, tỏ rằng trong bể khổ sóng gió đức Quán Thế Âm bao giờ cũng gần gũi chúng sanh, cứu vớt chúng sanh bằng hoa sen Từ bi ngát hương chơn lý. Có khi vẽ Ngài ngồi ở pháp tọa trong rừng trúc, hình dung Ngài ở núi Phổ Đà thường nhập định, đồng thời tùy duyên thuyết pháp độ chúng sanh; tuy tùy duyên ứng thân thuyết pháp mà vẫn không rời pháp tọa tự giác vậy. Hình ảnh này và hình ảnh có Thiện Tài, Long Nữ đứng hầu là tượng trưng cho phạm hạnh đồng chơn của Đức Quán Thế Âm, nghĩa là hoa sen trong sạch giữa bùn lầy ô trược như tâm hồn tươi trẻ trước cảnh sắc mê hoặc. Trong năm có ba ngày vía lớn của Ngài là ngày 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu, 19 tháng Chín.

Người Phật tử chơn chánh niệm Đức Quán Thế Âm là luôn luôn thể theo hạnh Từ bi của Ngài mà độ cho tất cả chúng sanh đau khổ, làm tất cả hạnh lành, dầu phải gặp những gian nan, đau khổ.

Người ăn thịt đoạn mất giống từ bi.
Không ăn thịt thời không có người sát hại chúng sanh.
KINH LĂNG GIÀ

BA MẨU CHUYỆN ĐẠO

  • LÒNG NGƯỠNG MỘ PHẬT PHÁP CỦA VUA A DỤC
  • ĐỨC PHẬT VỚI LA HẦU LA
  • ĐỨC PHẬT ĐỘ CHO NGƯỜI GÁNH PHÂN

1- LÒNG NGƯỠNG MỘ PHẬT PHÁP CỦA VUA A DỤC

Vua A Dục trước là con người độc ác, từ khi theo Đạo Phật, trở thành người rất nhân từ. Hồi mới theo Đạo Phật vì lòng cảm mộ quá dồi dào, nên mỗi khi ngự ngoài đường, hễ gặp các vị Tỳ- kheo nào đi ngang qua, liền xuống kiệu khấu đầu lạy. Có vị đại thần tên là Da-tát, thấy thế làm quá đáng bèn cản ngăn vua rằng: “Các thầy Tỳ-kheo kia chẳng qua là những người các cấp đi hành khất ngoài đường, không đáng tôn trọng”. Vua im lặng không trả lời. Cách vài ngày, vua truyền cho các quan văn võ, mỗi ông phải đem bán một đầu súc vật, và cho biết giá bán các đầu ấy như thế nào; ông Da-tát thời phải bán một đầu người. Các đầu súc vật thời bán được với một giá tiền sai khác hơn kém nhau, duy có đầu người của ông Da-tát bán thì không ai mua. Vua hỏi cớ sao, ông Da-tát trả lời: “Vì đầu người là một vật hèn hạ, không có giá trị gì”. Vua lại hỏi: “Chỉ có cái đầu này là hèn hạ hay tất cả đầu người đều hèn hạ?”. Ông đáp tất cả đầu người đều hèn hạ. Vua bèn hỏi: “Vậy đầu trẫm đây cũng là hèn hạ sao?”. Ông Da- tát sợ hãi không dám nói, sau vua bắt ép ông phải thú thật đầu vua cũng hèn hạ. Vua bèn giảng giải cho ông Da-tát nghe rằng: “Phải ngươi muốn cản ta đừng lạy các vị Sa-môn là nhà ngươi có ý kiêu căng tự đắc. Nhưng cái đầu của trẫm đây là một vật hèn hạ không ai thèm mua, vì cúi đầu xuống mà được thêm công đức, thêm giá trị thì phỏng có hại gì? Nhà ngươi muốn chỉ trích các thầy Sa-môn là người các cấp, nghĩa là không sang trọng nhưng nhà ngươi không rõ ân đức của các Thầy. Khi nào có đi ăn tiệc, ăn đám cưới thời mới nên hỏi đến giai cấp, chớ đã đi tu học đạo, phân biệt giai cấp làm gì? Người sang trọng danh giá bị tội nặng thời ai cũng nói người này là kẻ có tội, và ai cũng đem lòng khinh bỉ. Nếu con người hèn hạ mà tu nhân tích đức thời ai cũng cúi đầu”. Vua nói đến đây, bèn chỉ hẳn vào ông Da-tát nói lớn rằng: “Nhà ngươi há lại không nhớ câu này của Đức Phật Thích Ca hay sao? Ngài dạy: Người có trí thời dầu vật không có giá trị cũng làm nên có giá trị”. Ta muốn theo Phật, ngươi lại can gián ta, ấy là bất trung. Đến khi ta nằm xuống đất như cây mía kia, thì dẫu muốn lạy, muốn cung kính cũng không sao được nữa, thời làm thế nào có công đức? Vậy ngươi  nên để yên ta lạy các vị Sa-môn kiếm chút phúc đức. Nếu người nào dám tự nói: “Ta là người đáng tôn trọng hơn tất cả, thời ấy là người u mê nhứt đời. Nếu lấy huệ nhãn của Đức Phật mà xem xét thân thể, thời biết thân ông vua và thân mọi người cũng giống nhau, cũng da thịt xương, khác nhau chỉ cái phù hoa bề ngoài. Nhưng cốt yếu ở đời là lòng đạo đức thời trong thân thể người là hèn hạ nhứt đời cũng có thể được. Chánh cái ấy là người trí giả gặp đâu cũng phải cung kính, phải vái lạy vậy”.

Trích trong truyện Vua A Dục.

2- ĐỨC PHẬT VỚI LA HẦU LA

Khi La-hầu-la (con của Thái tử Tất-đat-đa) chưa thành đạo, tâm tánh thô tháo, lời nói ít thành tín. Phật bảo La-hầu-la rằng: “Ngươi hãy về tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu kinh giới”. La-hầu-la vâng theo lời Phật dạy về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, tàm quý tự hối ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật an tọa, La-hầu-la nhiếp tâm đứng hầu một bên. Phật bảo La-hầu-la rằng: “Ngươi hãy bưng chậu nước đến đây, rửa chân cho Ta”. La-hầu-la vâng lời rửa chân Đức Phật. Khi rửa xong Đức Phật bảo La-hầu-la rằng: “Ngươi có thấy nước rửa chân trong chậu kia không?”

– Bạch Thế Tôn, con thấy.
– Nước ấy có thể dùng để ăn, uống, súc miệng được không?
– Bạch Thế Tôn, không thể dùng được. Nước ấy trước kia trong sạch, nay vì rửa chân trở thành nhớp đục nên không thể dùng.

Phật dạy rằng: “Ngươi cũng như vậy, là con Ta, là cháu của vua Tịnh Phạn, bỏ sự vui sướng ở đời, làm vị Sa-môn; nếu ngươi không tinh tấn, nhiếp thân giữ miệng, thời phải bị ba món là tham, sân, si làm nhơ nhớp tâm ý, cũng như nước đục kia không thể dùng được”.

Phật lại bảo La-hầu-la: “Hãy đổ nước kia đi”. La-hầu-la liền đổ nước trong chậu ra.

Phật nói: “Chậu kia nay không còn  nước nhớp nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không?”

– Bạch Thế Tôn, không thể dùng được, là vì đã mang cái tên chậu đựng nước rửa và đã từng chứa nước bất tịnh.

Phật dạy La-hầu-la: “Ngươi cũng như vậy; tuy làm vị Sa-môn, miệng không nói lời thành tín, tâm tánh lại cang cường, chẳng niệm tinh tấn, thường bị tiếng đồn không tốt. Thật cũng như cái chậu rửa kia, không thể đựng đồ ăn được”.

Đức Phật lấy ngón chân hất cái chậu rửa, khiến chạy lăn tròn, nghiêng qua nghiêng lại vài lần mới dừng lại. Phật bảo La-hầu-la: “Ngươi có tiếc cái chậu này bị bể không?”.

– Bạch Thế Tôn, cái chậu để rửa chân là vật không quý giá gì. Trong ý tuy cũng có tiếc đôi chút, nhưng không đến nỗi thiết tha lắm.

Phật bảo La-hầu-la: “Ngươi cũng như vậy, tuy làm người Sa-môn, không nhiếp thân và miệng, nói lời thô ác làm hại nhiều người, thời trong chúng không ai thương, người trí thức không ai tiếc, thân chết hồn luân chuyển trong ba đường dữ, sống chết vô lượng, các vị Hiền Thánh không ai thương tiếc; cũng như ngươi nói không tiếc cái chậu nữa”. La-hầu-la nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và sám hối tất cả lỗi lầm đã phạm.

Kinh Pháp Cú Thí Dụ

3- ĐỨC PHẬT ĐỘ CHO NGƯỜI GÁNH PHÂN

Thành Xá Vệ có một người Chiên-đà-la, sống về nghề đổ phân. Một hôm, Đức Phật gặp đi giữa đường bèn kêu lại. Người đổ phân thưa rằng: “Con là người gánh phân ô uế không sạch, con không dám lại gần Ngài”. Đức Phật nói rằng:  “Ta nay muốn cứu độ người”. Rồi Đức Phật tự thân dắt người gánh phân xuống sông Hằng tắm rửa sạch sẽ, và đưa về tịnh xá Kỳ Hoàn cho xuất gia làm vị Sa-môn. Người gánh phân tu hành rất tinh tấn cần khổ chuyên tâm, nên chưa đầy một tuần chứng quả A-la-hán, thần thông tự tại.

Lúc bấy giờ, vua trong nước nghe tin Đức Phật độ cho người Chiên-đà-la, lấy làm bất mãn cho rằng làm vậy ô nhục hạng Sa-môn, và làm khó khăn sự kính lễ của các hàng vua chúa, liền đến tịnh xá trách khéo Đức Phật. Khi đến chỗ Phật ở, thấy một vị Sa-môn uy nghi đức hạnh, ngồi thiền trên một tấm đá, hiện nhiều thần thông kỳ diệu. Vua vào lễ Phật và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, vị Sa-môn kia, danh hiệu là gì, sao lại có nhiều thần thông như vậy?”. Phật bảo rằng: “Đó là người gánh phân, nhờ công hạnh tinh tấn nên chứng được quả A-la-hán”. Rồi Đức Phật dùng thí dụ cho vua rõ rằng: “Như ở trong bùn nhơ bẩn, có nở một hoa sen thơm ngát, vậy Bệ hạ là người có mắt, Bệ hạ có hái lấy hoa kia không?”. Vua đáp: “Đóa hoa tuy mọc trong bùn lầy mà thơm ngát hương quý, rất nên dùng để tự trang nghiêm. Còn bùn lầy nhơ bẩn kia thì nên quán xem như là trạng thái của bà mẹ, chính tự trong bào thai mà sanh nở đóa hoa công đức”.

Lúc bấy giờ, vua lại bạch Phật rằng: “Vị A-la- hán trước làm nghề đổ phân, nay công quả tu hành viên mãn, chứng được những quả đức không thể nghĩ nghì. Tôi xin nguyện luôn luôn cúng dường mười món cần thiết, không dám để thiếu thốn”.

_____________________________

BA CHUYỆN TIỀN THÂN

  • THÁI TỬ TU ĐẠI NOA
  • CON SƯ TỬ TRỌNG PHÁP
  • QUẢ BÁO LÀM MẸ ĐAU KHỔ

1- THÁI TỬ TU ĐẠI NOA

Ta nghe như vầy:

Một thời Đức Thế Tôn ngự tại nước Xá Vệ nơi rừng Kỳ Hoàn, tại A-luyện trong vườn A-nan-phân, để đối với vô số Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-ba-di. Lúc ấy, Ngài ngồi chính giữa, có bốn hàng đệ tử chầu chực xung quanh. Bỗng Ngài mỉm cười và nơi miệng có chiếu hào quang năm sắc.

Ông A-nan đứng dậy, sửa y phục trang nghiêm, chắp tay quỳ xuống và nói: “Bạch Đức Vô Lượng Thọ, đã 20 năm con hầu cận Ngài, chưa hề thấy Ngài cười lần nào như hôm nay. Bạch Đức Chánh Biến Giác, hiện giờ, Ngài nhớ đến chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chăng? Con rất mong đợi biết vì sao Ngài lại mỉm cười như thế?”.

Phật đáp: “Ta không tưởng tới Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Ta nhớ cái hạnh bố thí Ba-la-mật của Ta hồi vô lượng kiếp trước”.

Ông A-nan nói: “Bạch Đức Vô Lượng Quang, xin Ngài hoan hỷ cho con biết pháp ấy ra sao?”.

Phật nói: “Thuở a-tăng-kỳ kiếp, có một nước hiệu là Diệp Ba, vua tên là Thi Tí, lấy pháp chơn chánh trị vì, chẳng hề làm tổn hại lê dân. Vua có 4.000 quan Thượng thơ, 500 thớt voi bạch, cai quản 60 tiểu bang và 800 thôn xã. Vua tuy có hai muôn vương phi mỹ nữ, song không có bà nào có con. Ngài khẩn cầu khắp nơi, tu luyện đạo đức.

May thay! Một bà bỗng có thai.

Thiên tử bổn thân săn sóc chánh cung rất chu đáo. Ngài lại ra lệnh lo nào nệm thúy gối loan cho bà an nghỉ, nào món ăn cho mỹ vị, thức uống cho tinh khiết đăng bà dùng. Sau chín tháng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sanh hoàng nam. Hay tin này, cả thảy quý phi trong cung đều hớn hở vui mừng.

Thời gian qua, Thái tử được 16 tuổi. Ngài văn võ kiêm toàn. Lại thêm lễ nhạc cung đàn cũng là tột chúng. Ngài phụng kính Phụ hoàng và Mẫu hậu chẳng khác chi tiên thánh. Vua cha lại dựng riêng cho Hoàng tử một tòa đài các nguy nga rực rỡ.

Tuy trẻ tuổi, song Đông cung lại quý sự phước thiện, bố thí cho nhơn loại, thượng cầm hạ thú. Ý Ngài chỉ muốn cho tất cả chúng sanh được an vui tự tại.

Khi đến tuổi trưởng thành, vua cha đính hôn cho Ngài với nàng Mạn-trà, con một vị thiên tử, Công chúa sắc đẹp tuyệt trần và đức hạnh không ai sánh kịp.

Ngày tháng qua, Đông cung được một trai một gái.

Một hôm, Ngài xin phép vua cha ra thành dạo

chơi và xem cảnh vật. Ngài thấy những người nghèo, đui, điếc, câm đi dọc đường, trong lòng ưu ái, không hân hoan chút nào. Vua cha hỏi, Đông cung nói: “Tâu Phụ hoàng, con ra thành thấy người nghèo, điếc, đui, câm; con động mối từ tâm, xót lòng trắc ẩn. Con muốn tâu Phụ hoàng biết ý muốn của con, song con còn ngần ngại e Phụ hoàng không nhận lời”.

Hoàng thượng nói: “Con muốn điều gì, cha cũng hoan hỷ ban cho như ý”. Đông cung nói: “Con muốn lấy tất cả của cải trong kho tàng của Phụ hoàng, đem bố thí cho mọi người, bất luận ai xin một vật chi thời con cho vật ấy”. Phụ hoàng đáp: “Hay thay, con cứ thi hành theo bổn nguyện, cha không cấm cản”.

Đông cung xin các quan hầu cận đem đồ châu báu ra bày biện nơi bốn cửa thành và ngoài chợ đặng bố thí cho tất cả nhơn loại. Tám phương trời đất đều hay việc lành của Hoàng tử. Bốn hướng xa xôi ngàn dặm, đua nhau lặn suối trèo non, đến thọ thí. Người đói rách, Hoàng tử cho ăn mặc, kẻ xin bạc vàng châu báu, Hoàng tử lại cấp cho, ai ai cũng được toại lòng hả dạ.

Thời ấy có một ông vua nghịch sanh lòng nham hiểm hay tin Hoàng tử bố thí bất luận là ai cùng vật gì, mới hội các đình thần và các vị Bà- la-môn trong nước bàn bạc rằng: “Ta nghe vua nước Diệp Ba có một thớt bạch tượng, tên là Tu- đàn-diên chạy bay được trên liên hoa. Voi ấy đã dõng mãnh lại mạo hiểm trong việc chiến tranh, trăm trận trăm thắng, chả biết chư khanh có ai chịu đi xin voi ấy chăng?”. Các quan văn võ lắc đầu trương mắt nhìn nhau; song trong hàng Bà- la-môn, có tám ông tâu rằng: “Chúng tôi nguyện làm như ý, cúi xin Hoàng thượng ban cho chúng tôi ít đồ hành lý”.

Vua dạy cấp đồ đi đường và nói rằng: “Ta rất tin cậy các người, nếu các người xin được voi ấy, ta sẽ trọng thưởng”.

Tám ông Bà-la-môn tay cầm tích trượng lên đường, khi lên thác, lúc xuống ghềnh. Lần hồi đã tới nước Diệp Ba. Chúng hỏi thăm đến trước cửa đền Hoàng tử, thảy đều chống gậy kim cương, chân đứng chân treo, day mặt vô cửa. Người giữ cửa vào báo cho Đông cung. Ngài liền ra thi lễ một cách tôn trọng, chẳng khác chi nghĩa cha con. Đoạn Thái tử hỏi: “Bạch quý Ngài, quý Ngài ở đâu đến đây? Đi đường sá xa xôi có cực khổ chăng? Cảm phiền quý Ngài cho tôi biết có việc chi quan hệ mà phải chịu nhọc nhằn treo chân thế này?”. Tám vị Bà-la-môn đáp: “Thưa Hoàng tử Đông cung, chúng tôi mạn nghe Đông cung mở đường phát thiện, bố thí bất luận là ai cùng bất cứ của gì, nên danh thơm của Ngài truyền khắp tám phương, công đức của Ngài thật vô lượng vô biên, xa gần đều chúc tụng, không một ai không biết. Chính bần đạo lấy đó tin chắc chắn như lời. Thưa Hoàng tử Đông cung, thật Ngài là con cõi thượng thiên, thế thì lời nói của Ngài còn hơn kim thạch. Vậy nếu Ngài thành tâm bố thí, chúng bần đạo xin Ngài hoan hỷ cho chúng tôi bạch tượng bay trên liên hoa”.

Đông cung liền lại chuồng tượng dắt ra một con voi bạch, song các vị Bà-la-môn nói lại: “Thưa Hoàng tử Đông cung, không phải thớt voi này, chúng tôi xin đây là xin bạch tượng chạy được trên hoa sen, tên nó là Tu-đàn-diên”.

Hoàng tử đáp:

“Cha tôi thương mến voi ấy lắm, chẳng khác chi tôi, tôi không thể tự quyền cho các Ngài. Nếu tôi cho thì cha tôi hết thương tưởng tôi, lại còn đuổi tôi ra khỏi nước nữa”. Nhưng Đông cung lại nghĩ rằng: “Trước kia ta đã lập trọng nguyện “Bố thí như ý”, nếu nay ta từ chối thì ta tự bác đại nguyện của ta. Ta nên cho voi ấy mới có thể đạt được pháp Ba-la-mật-đa”. Đông cung không còn ngần ngại nói: “Bạch quý Ngài, tôi không dám làm quý Ngài phải bận lòng vì một sự nhỏ nhen đó”. Hoàng tử dạy tùy tùng thắng bành vàng và dắt tượng ra tức tốc. Tay trái Ngài bưng nước rửa tay cho các vị Bà-la-môn, tay mặt dắt voi cho quý khách. Vừa được voi bạch, tám ông Bà-la-môn liền ca tụng “Bồ-đề tâm” và cảm tạ Đông cung, lộ vẻ hân hoan và vội vã lên đường. Đông cung lại còn nói với: “Xin quý Ngài hãy đi cho chóng, kẻo Phụ hoàng tôi biết lại cho người theo bắt voi”. Trong nháy mắt, tám ông Bà-la-môn biệt dạng.

Vừa nghe Hoàng tử cho kẻ nghịch tượng báu, các quan văn võ đều sửng sốt, lo sợ rằng: “Nước ta nhờ có voi ấy mà dẹp nạn can qua”. Quần thần liền vào tâu với vua: “Muôn tâu Bệ hạ, Đông  cung đã đem voi báu cho kẻ thù nhà, Bệ hạ dựng nên bờ cõi cũng nhờ có voi ấy oai phong lẫm liệt, một mình có thể chống cự sáu chục thớt voi khác như chơi, nay Đông cung lại cho kẻ nghịch, chúng hạ thần cho đó là điềm mất nước. Chúng tôi tâm hồn rối loạn, cúi xin Hoàng thượng định đoạt, bố thí như ý của Đông cung theo thiển kiến của chúng tôi thì chẳng kíp thì chầy, Hoàng tử chẳng những vét sạch cả của cải trong kho tàng mà thôi, lại chúng tôi sợ e Ngài còn cho luôn cả nước và vợ con Ngài nữa”.

Vua nghe tâu không vừa lòng, liền cho đòi một vị đại Thượng thơ đến hỏi: “Khanh cho Trẫm biết có phải Thái tử bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

– Muôn tâu Bệ hạ, quả thật như lời.

Vua hội nghị cả thảy đình thần để thẩm án Đông cung. Một quan Thượng thơ tâu: “Kẻ nào vào chuồng tượng thì chặt chân, kẻ nào dắt tượng thì cắt tay, kẻ nào thấy dắt tượng thì móc mắt”. Một quan Thượng thơ khác lại tâu: “Xin Hoàng thượng cộng án tử hình cho cả thảy thủ phạm và đồng lõa”. Thấy quần thần phân vân và ý kiến không đồng, vua lại thêm tha thiết và phán với triều đình: “Con Trẫm chẳng những ham tu huệ mà thôi, lại còn mộ đường phước thiện. Đối với mấy điều ấy Trẫm không thể ngăn cản, huống chi nay Trẫm nỡ đành bắt buộc hành hình cùng địa ngục”. Một vị đại Thượng thơ bác bẻ ý kiến cả thảy triều thần, rồi quỳ xuống tâu: “Theo thiển kiến của tôi, Ngài nên đuổi Thái tử ra khỏi nước và đày người ở chốn lâm sơn 12 năm hòng người ăn năn hối ngộ”. Vua theo ý kiến ấy, dạy đòi Đông cung vào hỏi: “Có phải ngươi bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

– Muôn tâu Phụ hoàng, quả thật như vậy.

Vua lại hỏi: “Sao ngươi lại dám bắt bạch tượng cho kẻ nghịch mà không trình cho ta hay trước?”.

– Thưa Phụ hoàng, trước kia Phụ hoàng cho phép con bố thí như ý và không ngăn cấm một việc chi. Bởi thế con không tâu lại với Phụ hoàng việc con làm phước.

Thánh hoàng nói: “Lệnh ta ban thuộc về đồ ngọc ngà châu báu, chớ không can hệ đến bạch tượng”.

Thái tử đáp: “Muôn tâu Phụ hoàng, các vật ấy đều là của cải của Phụ hoàng tất cả, con không ngờ phải trừ bạch tượng”.

Hoàng thượng phán: “Ngươi phải tức tốc ra khỏi nước này, ta đày ngươi tại núi Đàn-đặc (Danta) 12 năm”.

Thái tử tâu: “Con không dám cãi lệnh Phụ hoàng song con xin Phụ hoàng cho phép con ở lại thêm bảy ngày đặng bố thí thêm cho mãn nguyện”.

Thiên tử đáp: “Ta dạy đuổi ngươi cũng vì sự bố thí của ngươi thái quá, chẳng những làm tiêu

tan kho báu của ta lại làm cho nước mất một linh vật, ngươi không được ở lại đây thêm bảy ngày, hãy ra khỏi nước bây giờ, ta không cho phép đâu”.

Thái tử tâu: “Con không dám trái lệnh Phụ hoàng, nhưng vì con còn chút của cải riêng, muốn đem bố thí cho trọn vẹn, chớ con không dám đá động đến kho tàng của nước nữa”.

Hai muôn cung phi đồng xin vua để cho Hoàng tử ở lại bảy ngày rồi sẽ đi cũng chẳng muộn.

Vua nhận lời.

Thái tử dạy gia dịch truyền cho thập phương hay, ai muốn của cải, thì đến Ngài cung cấp cho.

Nhân dân ở bốn phương trời nghe đồn đều tới cửa đền. Hoàng tử rất ân cần thiết đãi thức ăn, chăm nom phân phát của cải, mọi người đều được vui vẻ. Trong bảy ngày, được bố thí cho của cải, người hàn vi trở nên phú quý, cả muôn người nhờ đó được no ấm hân hoan.

Đông cung vào từ tạ Công chúa Mạn-trà nói rằng: “Vì tôi bố thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại cho kẻ nghịch bạch tượng kỳ tài, nên Phụ hoàng và triều đình đày tôi mười hai năm lên núi Đàn-đặc”.

Bà Mạn-trà nói: “Muốn nước thịnh nhà an, tôi xin cầu chúc đức Thánh hoàng, các thượng quan cùng quan dân lớn nhỏ trong nước, thảy đều được giàu sang, an vui vĩnh viễn. Còn tôi thì tôi nguyện theo Thái tử vào chốn thâm sơn mà tu hành pháp Bát-nhã”.

Đông cung nói: “Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giữ được bình tĩnh với cọp hùm cùng các thú dữ khác, Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đài các nguy nga, mặc ròng tơ lụa, nghỉ toàn nệm gối, ăn uống toàn đồ mỹ vị. Còn trên sơn lâm, nghỉ ngoài màn trời chiếu đất, nệm gối bằng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. Lại thêm mưa gió sấm, sét, sương, tuyết làm cho vỡ mật kinh tâm. Khi lạnh thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi cây cối không bề nương dựa, dưới đất thì là cỏ gai đá sỏi cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao phu nhân lại chịu nổi cảnh khổ ấy?”.

Bà Mạn-trà đáp: “Nếu thiếp xa cách Hoàng tử thì cần gì nệm thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước hoàn cảnh này, thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho trọn đạo vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiện, khói thì có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân cho lang quân, mặc dầu mưa tối nắng chiều. Thiếp tưởng: lang quân, chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại, lúc lang quân lập đàn bố thí thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương nếu có người đến xin thọ thí, thiếp biết nói làm sao với họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp quá cảm động có thể chết đặng vậy”.

Đông cung nói: “Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai, nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỷ nhận lời. Khi ấy, Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải là làm rối loạn tâm từ thiện của tôi không? Tốt hơn Công chúa đừng đi theo tôi làm chi”.

Mạn-trà đáp: “Hoàng tử chớ quá lo xa, tôi xin tán thành mọi việc phước thiện. Lang quân ôi! Trong trời đất không có ai nhơn đức hơn lang quân!”.

Đông cung nói: “Nếu quả Vương phi đồng tình thì không gì quý hóa bằng!”.

Đông cung dắt vợ con vào viếng mẹ và từ giã lên đường. Thái tử thưa: “Cúi xin Mẫu hậu hãy năng nhắc nhở Thánh hoàng lấy luật chơn chánh trị nước chăn dân, chớ để tà đạo sang nhập nước nhà”.

Nghe lời Đông cung, Hoàng hậu bồi hồi cảm động âu sầu. Bà nói giữa cung phi: “Ta đem thân cứng cỏi như sắt đá, lấy lòng bền bỉ hơn gang thép mà phò Hoàng thượng không chút chi lỗi lầm. Nay có một mụn con vỏn vẹn, nó lại bỏ ta mà đi, tưởng tới chừng nào thì tâm bào ta đứt từng đoạn! Nhớ khi con còn trong bụng mẹ, chẳng khác chi lá trên cành, càng ngày càng lớn ta nuôi con đến trưởng thành, nó lại đi xa, bỏ ta hiu quạnh! Các Vương phi khác sẽ được hưởng thú vui chơi, còn ta thì Hoàng thượng sẽ hết yêu vì ta nữa. Ta xin thành tâm chú nguyện cùng cao xanh cho con ta được mau trở về xứ sở”.

Đông cung cùng vợ con đồng lạy mẹ rồi lui ra. Hai muôn quý phi mỗi bà đều đem ngọc trân châu đặng biếu cho Đông cung; bốn ngàn Thượng thơ đem tràng hoa và bảy báu dâng cho Hoàng tử.

Thái tử ra cửa thành hướng Bắc, Ngài lấy cả thảy bảy vật báu, ngọc và bông hoa bố thí cho mọi người. Cả thảy quan dân lớn nhỏ vô số đến đưa đón chật đường, chen nhau đưa lễ vật cùng chúc từ cho hoàng tử. Họ bàn luận cùng với nhau và nói: “Đông cung Thái tử là người trọn lành, là bậc vĩ nhân trong nước. Vì sao Hoàng thượng lại xua đuổi một vị Hoàng tử quý nhứt và hiếm có trong đời này?”. Cả thảy mọi người đều hoài tâm thương tiếc.

Ra khỏi thành, Hoàng tử xin thần dân trở gót đặng Ngài lên đường. Lúc quay lưng, quan dân lớn nhỏ đều bi cảm và khóc than nức nở.

Thái tử lên xe với vợ con, tự cầm cương giục ngựa. Đi một khoảng đường xa xa, Thái tử dừng xe dưới bóng cây nghỉ mát. Bỗng có một người Bà-la-môn đến xin Ngài con ngựa. Thái tử mở ngựa ra cho, rồi để hai con lên xe, tự mang gọng xe vào vai kéo thế cho ngựa, Công chúa thì ở sau xe đẩy tới. Đi thêm được một khúc đường, lại găp một vị Bà-la-môn đón xin cái xe, Đông cung liền nhận lời. Đi một khúc xa hơn nữa lại gặp một người Bà-la-môn xin bố thí. Thái tử nói: “Tôi không muốn từ chối, song của cải tôi đã hết cả”. Người Bà-la-môn đáp: “Nếu Ngài không có của cải gì khác, nhờ Ngài cho tôi y phục của Ngài đang mặc trong mình”. Đông cung lấy quần áo tốt của mình mà cho, rồi mặc đồ cũ. Đi một đỗi xa nữa, gặp một người Bà-la-môn khác đến xin bố thí, Đông cung cho quần áo của vợ. Một đỗi xa hơn nữa, lại gặp một người Bà-la-môn đến thọ thí, Ngài cho quần áo của hai con. Đông cung đã bố thí cả xe, ngựa, của cải và quần áo mà không buồn không tiếc chút nào. Bây giờ, Đông cung thì cõng con trai, Công chúa thì bồng con gái, đi bộ lên đường. Cả thảy vợ chồng con cái đều hân hoan, nhắm non cao thẳng dặm.

Núi Đàn-đặc ở xa lắm, cách châu thành hơn 6.000 dặm. Muốn đi đến nơi, phải trải qua không biết bao nhiêu hầm hố bùn lầy, phải nhịn đói chịu khát nữa.

Cứ ngày đi đêm nghỉ, Xuân qua Thu lại, Hạ mãn Đông sang, tội nhân đã đến núi Đàn-đặc. Hoàng tử nhắm xem phong cảnh thấy núi cao chơm chởm oai nghi, cây cỏ sầm uất thịnh mậu. Các thứ chim ca hót với giọng véo von, hồ trong hoa nở, nước ngon trái ngọt với vô số ngỗng, hạc, vịt, chài cùng các loại chim ăn dưới nước.

Hoàng tử nói với vợ: “Ở đây cây mọc thẳng bằng, cao sừng sựng tận trời xanh mà không cây nào lay động. Chúng ta sẽ được uống nước trái ngọt ở hang đá; chúng ta sẽ hành pháp Bát-nhã”. Đông cung vô núi, cả thảy thượng cầm hạ thú đều vui mừng đến nghinh tiếp Ngài.

Trên chóp núi có một vị tu hành tên là A- châu-đà. Ngài được 5.000 tuổi và đức hạnh dung thông, Đông cung đến thi lễ rồi lui ra đứng dậy mà nói: “Bạch Ngài, hiện giờ chúng tôi chưa biết phải ở nơi nào có thức ăn uống?”.

Ông A-châu-đà đáp: “Toàn núi này là cảnh thiên thai, Ngài ở đâu lại không được? Núi này chỗ nào cũng tinh sạch và thanh tịnh, Ngài muốn hành pháp Bát-nhã lại còn đem vợ con theo làm chi?”.

Hoàng tử chưa kịp trả lời, bà Mạn-trà chận hỏi: Ngài tu ở núi này đã bao lâu?

Tôi ở núi này được đâu 400 hay là 500 năm.

– Một người như tôi ước tu bao nhiêu năm mới đắc huệ? Giả tỷ tôi ở núi này lâu hơn cổ thọ cũng khó tính cho ra đến chừng nào đạt được đạo Bồ- đề.

Ông tiên đáp: “Kỳ thật mấy câu chuyện ấy, tôi cũng không biết được”.

Đông cung hỏi: “Ngài có nghe nói đến tên Thái tử Tu-đại-noa, con của vua nước Diệp Ba chăng?”.

Vị tu sĩ đáp: “Tôi thường nghe nói đến, song không biết mặt”.

Thái tử nói: “Đông cung ấy là tôi đây vậy”. Vị tu sĩ hỏi: “Ngài muốn tu pháp môn nào?” Thái tử đáp: “Tôi muốn tu theo Đại thừa”.

Vị tu sĩ nói: “Đối với công đức của Ngài, tôi tưởng chẳng bao lâu Ngài đạt mục đích một cách viên mãn. Chừng Ngài đắc đạo Vô thượng, hoàn toàn sáng suốt, tôi sẽ là đệ tử thứ nhứt của Ngài có phép siêu phàm nhập Thánh”.

Rồi ông lại chỉ cho Thái tử một chỗ ở. Thái tử bắt chước ông tròng cương vào đầu và vấn tóc, lượm nhánh và lá cây cất bốn lều tranh cho mình, vợ và con.

Con trai tên là Da-lị (Jali) 7 tuổi, mặc quần  áo bằng cỏ rơm theo cha, con gái tên là Kê-na- diên (Krnâjinâ) mặc quần áo da nai theo mẹ.

Trên núi chim chóc và cầm thú vui cười, tỏ lòng tín ngưỡng và sùng bái Hoàng tử. Khi Thái tử ở đêm tới đâu thì ở đó hang hốc đều nổi mạch nước, cây khô lại đơm bông trổ lá, loại sâu bọ và ác thú thảy đều trốn mất, loài thú ăn thịt trở lại ăn cỏ, cây sai trái, chim đồng tình kêu hót. Bà Mạn-trà lo hái trái cho hoàng tử và cho con ăn. Còn hai trẻ khi thì đi chơi với cầm thú nơi mé rạch, khi thì ở đó suốt đêm. Lần kia đuổi thú chơi, con trai Da-lị cưỡi sư tử, sư tử nhảy. Da-lị té xuống đất trầy mặt chảy máu. Một con khỉ thấy, leo lấy lá cây chùi máu, rồi dắt lại bờ ao rửa. Hoàng tử thấy tấn tuồng ấy, thầm nói: “Loài cầm thú cũng có lòng thương như nhơn loại vậy”.

Trong thời kỳ ấy, tại xứ Câu-lưu có một người Bà-la-môn nghèo khó, bốn mươi tuổi, không con, vợ chàng thì yểu điệu đẹp đẽ, phương phi, còn chàng thì xấu xa, mình mẩy đen điu, diện mạo quá dị tướng, chẳng khác chi yêu ma quỷ mị. Vợ chàng gớm ghét mong sao chàng chết phứt cho rồi. Ngày kia cô ta đi múc nước gặp một đám trai tráng nhạo báng chồng nàng và nói: “Bà thì ví tợ thiên kim, cớ sao lại làm vợ một người như thế?”.

Cô ta trả lời: “Cái đầu già nua ấy bạc trắng như sương, sớm tối tôi hằng trù rủa cho nó chết, chẳng biết sao nó không nhúc nhích”. Đáp rồi tự than thân tủi phận, về nhà khóc nói với chồng: “Thiếp đi múc nước gặp một lũ trai tơ xúm nhau giễu cợt. Vậy chàng phải kiếm cho thiếp một con đòi, chừng nào có đứa ở, thiếp khỏi đi xách nước, bọn ấy mới hết chọc ghẹo thiếp”.

Người chồng trả lời: “Tôi nghèo xác da xác chiếu, nàng lại muốn kiếm tôi mọi ở đâu?”.

Vợ đáp nếu không có, tôi tình nguyện bỏ nhà ra đi. Nàng lại tiếp lời: “Tôi có nghe Hoàng tử Tu-đại-noa, vì bố thí thái quá nên bị vua cha đày tại núi Đàn-đặc. Ngài có một trai, một gái, chàng nên thân hành đến đó xin hai trẻ”.

Chồng bác lời rằng: “Núi Đàn-đặc xa hơn 6.000 dặm, khó đi đến nơi, huống nữa là xin Thái tử một việc mà ngài không thể nào cho!”.

Vợ lên tiếng: “Nếu chàng còn do dự, tôi sẽ mượn con dao tự tử ngay”.

Chồng xuống giọng: “Thôi đừng vội giận, nàng coi sắm cho tôi đồ hành lý”.

Vợ nói: “Đi thì đi đi, nhà ta thiếu trước hụt sau, còn đòi đồ hành lý gì?”.

Người Bà-la-môn cụ bị ít món ăn rồi lên đường. Đến xứ Diệp Ba đi ngay lại cửa thành, chàng ta mới hỏi người giữ cửa: “Xin ông thi ân cho tôi biết Hoàng tử Đông cung Tu-đại-noa hiện giờ ở đâu?”. Người giữ cửa không dám trả lời, vào báo Hoàng thượng hay, vua nghe tức giận mà phán rằng: “Cũng vì lũ này mà ta đày Thái tử, sao chúng nó lại đến đây làm chi?”.

Người Bà-la-môn được đi vào quỳ tâu: “Muôn tâu Thánh hoàng tôi ở xứ xa lại, vì cái thanh danh của Hoàng tử Đông cung đâu đâu đều biết, trên thấu tứ thiên, dưới tận cửu tuyền. Đông cung có lòng bác ái không hề để một ai thất vọng. Bởi vậy nên ở xa, tôi cũng lặn lội đến đây chú ý thành tâm yêu cầu một đôi việc cùng hoàng tử”.

Vua nói: “Đông cung ở chốn quạnh hiu, trong thâm sơn vì quá nghèo khổ, người còn có vật chi nữa mà bố thí”.

Người Bà-la-môn tâu: “Muôn tâu Hoàng thượng, tuy biết Đông cung khiếm khuyết mọi vật, song tôi cũng chỉ nguyện đến tận nơi ra mắt ngài”.

Vua dạy người đi chỉ đường.

Người Bà-la-môn nhắm núi Đàn-đặc thẳng dặm băng ngàn. Chàng vào núi gặp một người  thợ săn đón hỏi: “Xin ông thi ân cho tôi biết, Hoàng tử Tu-đại-noa có ở trên núi này không?”.

Thợ săn tuy biết Đông cung bị đày ở đây cũng vì bố thí cho giòng Bà-la-môn, song không chỉ chỗ lại còn bắt chàng trói vào gốc cây đánh một trận nhừ tử, mắng nhiếc quá lời và nói: “Ta muốn cho ngươi vài mũi tên và ăn thịt ngươi, ngươi còn thiếu vật chi mà đến đây hỏi thăm Thái tử”.

Người Bà-la-môn nghĩ: “Ta sẽ bị tay người này giết vậy ta phải thiết kế đánh lừa người mới mong còn tánh mạng”. Nghĩ rồi liền nói: “Theo lẽ phải thì ngài nên hỏi tôi nguyên nhân trước khi hành phạt tôi cho đáng”.

Thợ săn đáp: “Ngươi muốn nói việc chi?”.

Người Bà-la-môn nói: “Thưa ngài, đức Thánh hoàng hồi tâm thương nhớ Thái tử Đông cung, dạy tôi đi tìm Hoàng tử đặng thỉnh về nước”.

Nghe vậy, thợ săn hối hận liền mở trói thả ra nhận lỗi và nói: “Tôi thật vô lễ, xin ông miễn chấp, cũng bởi không hay không biết có chỉ Thánh hoàng nên mới có lỗi lầm như hôm nay”. Nói rồi chỉ chỗ ở của Đông cung.

Người Bà-la-môn đi thẳng đến lều tranh của Đông cung, Hoàng tử thấy đặng rất đỗi vui mừng, ra tiếp rước, thi lễ hỏi thăm: “Ông ở đâu lại, có lẽ ông đi đường xa mệt nhọc thì phải? Ông đến tôi có việc chi chăng?”.

Người Bà-la-môn thưa: “Tôi ở xa lắm, thân tôi khốn đốn khôn cùng, hiện giờ tôi đói khát nữa”.

Hoàng tử lật đật mời vào cốc, mời ngồi, đem trà nước và trái cây cho người Bà-la-môn dùng. Khi no rồi người Bà-la-môn nói: “Thưa Đông cung Thái tử, tôi gốc ở nước Câu-lưu đã lâu, tôi nghe lòng từ thiện của ngài, thập phương thế giới đều mến danh thơm và đức hạnh của ngài. Tôi quá nghèo khổ mong ngài thương tưởng tôi, cho tôi một vài vật”.

Thái tử đáp: “Kính ông, chẳng có việc gì tôi từ chối nhưng rủi cho ông, hiện giờ tôi không còn món gì”.

Người Bà-la-môn nói: “Thưa Đông cung, nếu ngài không có gì, xin ngài cho tôi hai trẻ con của ngài để phụng dưỡng tôi lúc trở về già”.

Hoàng tử suy nghĩ một hồi rồi đáp: “Ông ở xa lại chú tâm xin hai đứa con tôi, tôi không lẽ từ chối”.

Lúc đó hai trẻ đi chơi. Thái tử kêu lại và nói: “Có một người Bà-la-môn ở xa đến xin hai con, cha đã hứa lời ưng chịu hai con hãy đi với người”.

Hai trẻ chạy đến bên cha khóc rằng: “Chúng con đã từng biết nhiều người Bà-la-môn song chúng con không hề thấy người nào dị tướng như thế. Chắc người này không phải trong họ của Bà- la-môn đâu, người ấy là quỷ yêu! Nay mẹ con đi hái trái chưa về, cha lại bắt con cho yêu tinh ăn thịt, chúng con phải chết mất. Đến chừng mẹ con về, kêu con chẳng thấy chẳng khác gì bò mẹ kiếm con, người sẽ bi lụy, than van, đau khổ”.

Thái tử nói: “Hai con chớ quá bịn rịn, cha đã hứa lời không thể thất tín. Người Bà-la-môn này không phải tà ma quỷ mị, không ăn thịt con đâu mà ngại, hai con hãy đi đi”.

Hoàng tử lấy nước rửa tay cho người Bà-la- môn, rồi kéo tay con cho người Bà-la-môn dắt đi.

Hai trẻ không chịu đi, chúng trở lại trước mặt cha, quỳ xuống và nói: “Thưa cha chẳng hay chúng con phạm tội gì những kiếp trước mà ngày nay chúng con phải chịu lắm điều thống khổ. Chúng con là giòng vua nay phải làm tôi tớ cho kẻ phàm phu. Trước mắt cha, chúng con xin sám hối các tội lỗi, có lẽ nhờ đó sự phiền não và nghiệp chướng của chúng con sẽ được tiêu trừ và hạnh phúc lại được phát khởi, mong sao đời này sang đời khác chúng con không còn gặp phải bước gian truân như thế nữa”.

Đông cung nói với hai con: “Cả thảy ái tình đều là ảo mộng, một ngày kia phải hủy hoại; vạn vật đều vô thường mấy ai giữ trọn vẹn một vật chi nơi trần thế”. Hai con hãy đi, chẳng nên dùng dằng nữa, chừng nào cha đắc đạo cha sẽ độ hai con”.

Hai trẻ, mắt đỏ ngầu nói với cha: “Xin cha trao lời vĩnh biệt của hai con lại cho mẹ con, chúng con quá đau lòng vì nghĩa mẹ con xa cách đời đời, lại không giáp mặt tỏ phân một lời trong khi mẹ Bắc con Nam. Chẳng còn nghi gì nữa, cũng bởi tiền căn nghiệp báo của chúng con, nên nay chúng con phải chịu vậy. Chúng con nghĩ đến khi mẹ chúng con về thấy mất hai con, người sẽ khổ tâm, đau đớn, sầu não chẳng cùng, lo cho thân chúng con phải chịu đói rách, phiêu lưu nơi đất khách”.

Người Bà-la-môn nói: “Tôi già yếu, hai trẻ bỏ tôi chạy theo mẹ chúng nó, tôi lụm cụm theo bắt chúng nó sao được. Xin Đông cung trói nó giùm tôi”.

Thái tử liền trói hai con giao cho người Bà-la- môn dắt đi, nhưng hai đứa nhỏ cưỡng lại chẳng chịu, người Bà-la-môn mới đánh chảy máu. Đau đớn thay cho Đông cung, thấy tình cảnh như vậy động lòng sa nước mắt. Cả trái đất đều rung động. Hoàng tử và cầm thú theo sau đưa tiễn hai trẻ, tới chừng biệt dạng mới trở về. Các loại lục súc trở lại chỗ cũ hai trẻ thường chơi, thấy cảnh chẳng thấy người xúc động rên than thảm thiết, lăn lộn dưới đất.

Người Bà-la-môn dẫn hai đứa nhỏ đi được xa xa, dọc đường đứa trai vấn dây trói vào cây không chịu đi, chủ ý chờ mẹ nó đến cứu. Người Bà-la- môn nổi giận lấy cây đánh nhừ tử, đến chừng chúng nó xin thôi đánh, chịu đi, mới nới tay.

Hai đứa nhỏ ngước mắt lên trời vái rằng:

Thần linh ôi! Hỡi thần linh ôi! Hoan hỷ mách giùm mẹ chúng tôi. Xót dạ con đi, sầu chất chứa,
Đau lòng mẹ ở, lụy quên thôi.
Chạnh tình nuôi dưỡng chưa thù đáp, Đoái nghĩa cưu mang chẳng đắp bồi, Ở biết bao giờ cho rảnh nghiệp?
Cuộc đời thiết tưởng bạc hơn vôi.

Cũng ngay lúc đó, Công chúa ở trên núi nháy mắt khó chịu, bà lấy làm lạ và nghĩ: Thuở giờ tôi chẳng hề có cảm động thái quá như hôm nay, chắc hai trẻ mắc phải tai nạn rồi. Bà liền để giỏ trái cây lại đó, hối hả ra về.

Khi Công chúa về, thấy Đông cung ngồi một mình không có hai con, bà vô lều tranh kiếm không có, bà lại trở ra mé rạch, chỗ chúng hay chơi giỡn, cũng không thấy. Bà chỉ thấy man, sư tử, khỉ, mấy thứ thường chơi với nó mà thôi. Bà Mạn-trà trở lại chỗ Thái tử ngồi và hỏi hai con ở đâu? Thái tử không nói.

Bà lại hỏi nữa: “Khi hai con ở xa thấy tôi đem trái về chúng nó chạy nhào lăn dưới đất, rồi lồm cồm chổi dậy nhảy nhót reo “Mẹ về”. Khi chúng nó thấy tôi ngồi ở đâu thì đến ngồi kề một bên, thấy bụi bặm dính mình tôi liền phủi. Bây giờ tôi không thấy con tôi và chúng nó không lại gần tôi, nó ở đâu, ai bắt nó? Không thấy con tôi, lòng tôi đứt từng đoạn! Chỉ cho tôi biết con tôi đi đâu và đừng làm cho tôi phải cuồng tâm”.

Bà nói đi nói lại ba lần. Hoàng tử vẫn điềm nhiên không thốt một lời. Bà càng đau đớn hơn nữa, bà nói chua cay như vầy: “Mất con tôi còn chịu được, song sự lặng thinh của lang quân làm cho tôi thêm rối loạn”.

Đông cung nói: “Có người Bà-la-môn ở xứ Câu-lưu đến xin hai con và tôi đã cho rồi”.

Công chúa thoạt nghe quá xúc động, té xỉu xuống đất đau đớn khôn cùng.

Đông cung nói: “Xin Công chúa hãy nguôi lòng. Phu nhân hãy nhớ lại việc xưa, hồi thuở Phật Để Hòa Kiệt La ra đời. Lúc đó tôi là một người Bà-la- môn, tên là Ba-sô-vệ, còn Công chúa phu nhân là con gái Bà-la-môn tên là Tu-la-đà, Công chúa cầm bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay 100 bạc. Tôi mua năm bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân lại lập nguyện như vầy: “Tôi nguyện cầu sao trong những kiếp vị lai tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự, dầu xấu xa tôi không hề xa chàng”.

Tôi có nói với Công chúa rằng: “Nếu nàng muốn làm vợ tôi thì phải tuân theo chánh lý tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực hành pháp bố thí, không hề thoái chuyển cùng làm trái ý một ai. Trừ cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỷ. Công chúa ưng chịu bằng lời. Nay tôi cho hai con, Vương phi lại làm rối loạn đến mối từ tâm của tôi”.

Nghe Đông cung nói, bà liền tỉnh ngộ; bà nhớ lại trong kiếp quá khứ, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của Thái tử.

Đế Thích thấy Thái tử hành pháp bố thí Ba- la-mật-đa, cố ý thử lòng Thái tử. Ngài hóa thân làm người Bà-la-môn xấu xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt Thái tử và thốt rằng: “Đông cung ơi! Tôi hằng nghe Đông cung rất hoan hỷ làm các việc phước thiện và không hề từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ,  vợ Đông cung”.

Hoàng tử đáp: “Công chúa là người của ngài”.

Công chúa nói: “Nếu Thái tử cho tôi đi, lấy ai mà giúp đỡ Thái tử”.

Đông cung nói: “Nếu tôi không cho Công chúa thì tôi không đạt được đạo Vô thượng Ba-la- mật-đa”.

Thái tử múc nước rửa tay cho người Bà-la-môn và dắt vợ cho người.

Đế Thích đã nhận rõ được lòng Thái tử không còn tiếc việc chi. Các thiên thần lại ca tụng lòng từ bi của Đông cung, tức thì trời đất tối tăm, thế giới đều rung động.

Người Bà-la-môn dắt Công chúa ra đi, được bảy bước, trở lại trả Công chúa cho Thái tử.

Thái tử hỏi: “Sao ngài không giữ Công chúa cho ngài? Công chúa thiếu nết na, tánh hạnh xấu chăng? Trong cả Hoàng nữ, Công chúa là cực phẩm phu nhân, nàng là Công chúa của một nhà vua kim thời. Cũng vì tôi mà nàng phải nhảy vào vạc dầu sôi, trong đống lửa đỏ, phải chịu ăn uống kham khổ, không hề than thở vì đau khổ phong trần; trong mỗi sự hành động, nàng rất ân cần chú ý và gương mặt vẫn thư thái tươi cười. Ngài nên đem nàng đi, tôi mới được an vui”.

Người Bà-la-môn nói với Đông cung: “Ta không phải là Bà-la-môn, ta là Thiên Đế Thích. Ta đến thử lòng ngài. Vậy bổn nguyện của hai

ngài là chi, ta sẽ cho được toại nguyện?”. Nói xong Đế Thích hoàn nguyên hình diện mạo oai nghi, dung nhan tuyệt mỹ.

Công chúa đảnh lễ ngài và cầu xin ba điều: “Trước nhứt xin ngài làm sao cho người Bà-la- môn đem hai con về bán tại bổn xứ, sau xin đừng cho chúng đói khát, sau nữa cho chúng được về nước cho chóng”.

Đế Thích đáp: “Bà sẽ được như nguyện”.

Đông cung nói: “Kính ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sanh đều được giải thoát và  hết khổ về sự sanh, lão, bệnh, tử”.

Đế Thích đáp: “Lời nguyện của ngài thật vĩ đại cao thượng không chi hơn. Nếu ngài muốn sanh cõi trời, làm vua Thượng thiên, làm đại Hoàng đế tại cõi trần, trường thọ như bá như tùng, thì tôi có thể làm được như ý; chớ cái oai linh tối yếu trong ba giới ra ngoài bản năng của tôi”.

Đông cung tiếp: “Tôi tạm xin cho được giàu  có muôn xe đặng bố thí hơn xưa. Tôi mong sao cho Phụ hoàng cùng các quan Đại thần, hồi tâm sum hiệp cùng tôi”.

Đế Thích đáp: “Bản nguyện của ngài sẽ được thành tựu”. Dứt lời Đế Thích biến mất.

Trong khi ấy, người Bà-la-môn dẫn mấy đứa nhỏ về tới nhà. Vợ chàng ra đón và nhiếc rằng: “Thật chàng quá lớn to gan mời đem mấy trẻ này về đây. Nó là giòng dõi vua chúa, sao chàng lại tàn nhẫn đánh đập đến nỗi vết tích máu mủ đầy mình. Hãy tức khắc đem bán đi và kiếm đứa khác cho tôi”. Chồng nghe lời vợ đem bán hai đứa trẻ.

Đế Thích thể theo lời nguyện của Công chúa, liền đổi ý cho người Bà-la-môn đưa qua nước Diệp Ba.

Đến xứ ấy, các quan và dân nhìn biết con của Đông cung, cháu nội của đức Kim Thượng, lớn nhỏ đều đồng lòng, thương xót liền vào tâu vua.

Vua nghe nói lấy làm ngạc nhiên, cho đòi vào. Xa xa vừa chợt thấy Hoàng tôn, Thiên tử, Hoàng hậu, quần thần và cung phi đều khóc nức nở. Vua hỏi người Bà-la-môn làm sao có mấy trẻ này? Nó tâu: “Tôi xin Đông cung Thái tử”.

Vua kêu cháu đến và muốn ôm, nhưng nó khóc không chịu lại gần. Vua hỏi giá cả. Người Bà-la-môn chưa kịp trả lời. Hoàng tôn nam tâu: “Trai định giá một ngàn bạc với một trăm bò cái, gái thì hai ngàn bạc với hai trăm bò cái”.

Vua nói rằng: “Lẽ thường thì người ta yêu chuộng con trai hơn gái, sao trai lại rẻ giá hơn gái?”.

Hoàng tôn nói: “Tâu Bệ hạ, những cung phi mỹ nữ của Bệ hạ không là quyến thuộc của ngài, người thì hèn hạ, kẻ lại hoa đòi; nhưng ai được Hoàng thượng yêu thì được tặng phẩm tước, trang điểm mỹ lệ, ăn uống sung sướng! Ngài chỉ có một mụn con trai mà ngài đày chốn non cao rừng rậm, còn ngài thì sớm tối sung sướng với cung phi, chẳng chút đoái hoài tới nghĩa cha con. Đó rõ ràng biểu thị trai ít có giá trị hơn gái”.

Thoạt nghe, vua liền tỉnh ngộ, khóc than rằng: “Ta có tội cùng cháu, lẽ nào cháu chẳng chịu lại gần ta? Ghét ta hay sợ người Bà-la-môn?”. Hoàng tôn vội tâu: “Chúng con đâu dám tự phép ghét Hoàng thượng và chúng con tuy là con vua chúa, nay lại tôi tớ kẻ phàm phu. Làm sao đứa nô bộc lại dám lòn dưới tay Hoàng thượng? Bởi vậy nên chúng con không thể tự tiện làm việc ấy”.

Hoàng tôn dứt lời, vua thêm sầu muộn. Liền đó, Thánh hoàng trả theo giá định của người Bà- la-môn, rồi kêu cháu, hai trẻ chạy vào lòng ngài. Vua ôm cháu vuốt ve và hỏi: “Cha con ăn mặc những gì trên núi?”.

Hai cháu nói: “Cha con ăn toàn lê hoắc, mễ cốc, mặc áo vải quần nâu, có trăm thứ chim làm cho cha con được giải khuây và không chút chi phiền”.

Vua cho người Bà-la-môn về.

Hoàng tôn tâu: “Người Bà-la-môn đói khát, xin Thánh hoàng cho người một bữa cơm”.

Vua nói: “Vậy chớ không giận nó sao, lại còn lo cho nó ăn uống nữa?”.

Hoàng tôn tâu: “Cha con ham tu phước huệ, đến đỗi không còn vật chi bố thí nên đem hai con cho người, người là chủ của con, chúng con rất  tiếc chưa làm nô lệ cho người, để khỏi phụ lòng bác ái của cha con. Chúng con sao đành để người đói khát. Cha chúng con còn cho chúng con được thay, huống chi bố thí một bữa cơm có lẽ nào Hoàng thượng từ chối”.

Vua lại cho sứ giả đi triệu Đông cung về. Được lệnh, sứ thần đi tìm Hoàng tử; tới núi Đàn-đặc liền tuyên đọc Thánh chỉ và xin Đông cung lập tức về cung.

Đông cung đáp: “Hoàng thượng đã đày ta ở núi này 12 năm và còn một nửa mới mãn hạn, chừng nào khâm kỳ viên mãn ta sẽ về chẳng muộn”.

Sứ giả về tâu lại cho vua nghe, rồi Thánh hoàng tự tay hạ bút đề thơ cho Thái tử như vầy: “Con thật đáng vị hiền nhân, nên lấy dạ khoan hồng quên chuyện đã qua. Con giận dữ có ích lợi gì, mà không trở về tổ quốc? Cha đợi con về  đặng đoàn viên cộng hưởng sự an vui”.

Khâm sứ mang bức thư đem đưa cho Đông cung. Tiếp chiếu, Hoàng tử liền quỳ lạy trước mật chiếu, đoạn lui lại, đi vòng mật chiếu bảy vòng rồi mới khai thơ ra đọc.

Hay tin Hoàng tử sắp hồi trào, các loài cầm thú nhảy nhót cảm động, kêu gào tha thiết, suối khe bỗng cạn, thú cái dứt sữa, chim chóc hót tiếng như thảm như sầu.

Hy hữu thay cho loài cầm thú cũng biết đau thương trong khi vĩnh biệt.

Đông cung và Công chúa đổi y phục lên đường.

Nghe tin Đông cung về nước, vua nước địch dạy thám tử bắt bành vàng cho bạch tượng, lại đem theo một ô vàng đựng bạc, một ô bạc đựng vàng đón mừng Thái tử xin trả lại và tỏ dấu ăn năn hối ngộ cùng Hoàng tử như vầy: “Trước kia mê muội, tôi cố ý xin ngài voi báu, vì tôi nên ngài phải bị đày ở chốn thâm sâu rừng rậm. Nay nghe tin ngài về nước, tôi rất vui mừng cho khâm sứ đưa bạch tượng trả lại cho ngài cùng dâng chút lễ bạc vàng, trông mong được ngài hạ cố và thứ lỗi cho tôi”.

Đông cung nói: “Giá như một người kia sắm sửa các thức ăn đủ mùi và dâng cho ai dùng, người ấy ăn vô rồi nhả ra, thức ăn đó còn hương vị tinh khiết chăng? Họ lượm ăn lại đặng chăng? Các việc bố thí của tôi khác chi đồ ăn kia, thế thì tôi không thể bắt voi lại. Các quan hãy lên tượng mà về và nói có lời cảm tạ nhà vua”.

Thám tử lên voi về tâu lại nhà vua. Cũng nhờ câu chuyện con voi mà vua nước địch được tỉnh ngộ, trở nên người hiền, thành bậc trượng phu. Vua quan và dân lại tín ngưỡng đạo Bồ-đề và bắt đầu hành pháp Vô thượng Ba-la-mật-đa.

Hoàng thượng, cha Đông cung, ngồi voi đón con. Hoàng tử chợt thấy, vội trổi bước, đảnh lễ sát đất rồi theo vua cha.

Cả thảy văn quan võ tướng và lê dân rất hoan hỷ đồng rải bông đốt hương trầm, treo cờ lọng, rưới nước thơm dưới đất, làm lễ tiếp rước Đông cung một cách long trọng linh đình.

Đông cung đã về tới thành liền vào lạy và  vấn an Hoàng hậu.

Hoàng thượng giao cho Đông cung hết thảy kho tàng trong nước. Thái tử đem ra bố thí cho thập phương và còn nhân đức hơn xưa. Sự bố thí của ngài viên mãn nên sau này ngài sẽ chứng quả Niết-bàn.

Đức Chánh đẳng nói với ông A-nan: Đó là cách Ta hành pháp bố thí trong một tiền kiếp của Ta.

Đông cung Tu-đại-noa (Sudâna) là Ta đó vậy. Cha Đông cung lúc đó là cha của Ta bây giờ, tức là Hoàng đế Tịnh Phạn (Subdhodana).

Mẹ Đông cung khi ấy hiện giờ là bà Ma-da (Mâyâ).

Công chúa khi trước hiện nay là Da-du-đà-la. Ông A-châu-đà bây giờ là Mục-kiền-liên (Mabâ-maudgalyâyana).

Đế Thích là Xá-lợi-phất (Cariputra).

Thợ săn lúc ấy hiện nay là A-nan (Ananda) Con trai Da-lị (Jali) hiện giờ là con trai Ta La-hầu-la.

Con gái Kê-na-diên (Krsnâjinâ) bây giờ là mẹ của La-hán Mật-lị (Mô li)

Người Bà-la-môn xin hai trẻ bây giờ là Đề-ba- đạt-đa (Devadatta).

Vợ của Bà-la-môn ấy là Chiên-đà-ma-na (Cinca- mânnavika).

Đó là sự phiền não và đau đớn, Ta chịu trong vô lượng kiếp và cũng trong vô số kiếp Ta lại làm luôn luôn như thế”.

Phật nói cùng ông A-nan: “A-nan, ngươi hãy luôn luôn gìn giữ Kinh này đặng diễn giải cho Tăng chúng nghe”.

Đó là cách của Bồ-tát hành Bố thí Ba-la-mật đa.

Phỏng theo “Kinh Đông Cung Tu Đại Noa” trong quyển “Sáu Phép Ba La Mật” 

2- CON SƯ TỬ TRỌNG PHÁP

Đầu đời mạt pháp về thời Đức Phật Tỳ Bà Thi, tại núi Ba-la-nại có một hòn núi tên là Tiên Thánh Sơn. Trong núi thường có các vị Sa-môn Bích-chi-Phật tu hành. Thường thường có các loài cầm thú hay đến gần gũi để nghe thuyết pháp. Có một con sư tử tên là Kiên Thệ, lông ánh sắc vàng, sức mạnh địch trên 1.000 con. Mỗi khi rống lên, thời chim bay phải rớt xuống, loài thú thì ẩn núp sợ hãi. Một hôm sư tử Kiên Thệ gặp một vị Sa- môn Bích-chi-Phật rất oai nghiêm thanh tịnh tâm sanh hoan hỷ, nên thường ngày đến thân cận nghe tụng Kinh thuyết pháp. Lúc bấy giờ, có một người thợ săn thấy sư tử có lông ánh sắc vàng muốn mưu giết, lột da dâng vua để lãnh thưởng. Người thợ săn nghĩ rằng: “Con sư tử này là vua các loài thú, không thể dùng cung tên và sập bẫy hại được, chỉ có cách là giả dạng vị Sa-môn, chờ sư tử nghe quen đến gần, thời lấy tên độc mà bắn”. Nghĩ vậy liền cạo đầu, mạo hành vi Sa- môn, vào núi ngồi dưới gốc cây. Lúc ấy, con sư tử Kiên Thệ thấy vị Sa-môn liền vui mừng đến liếm chân quấn quít một bên để nghe pháp. Người thợ săn liền dùng tên độc nhắm bắn. Con sư tử bị trúng tên đau quá rống ngược lên, muốn nhảy tới vồ giết vị Sa-môn giả hiệu kia, nhưng lại nghĩ rằng: “Người này đã mặc áo cà sa, tức là biểu hiện các Đức Phật hiện thân trong ba đời; nay ta sát hại thời không khó gì, nhưng tức là ta đã sát hại biểu tướng của các Đức Phật”. Nghĩ vậy, bèn nuốt giận chịu đau. Một lát sau, thuốc độc ngấm dần, đau đớn quá, lại muốn nhảy tới vồ nát người thợ săn, nhưng lại nghĩ rằng: “Nay ta muốn giết thời không khó gì, nhưng ta sẽ bị các Đức Phật quở trách, và từ bỏ không khác gì kẻ ác. Người thợ săn độc ác âm mưu hại, ta không nhẫn thì có khác gì người ấy. Người không tu nhẫn thời mê mờ, nhiễu loạn tăng trưởng, không được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy ta quyết không khởi ác tâm”. Nghĩ vậy bèn nói bài kệ rằng:

“Nguyện tự chịu bỏ thân mạng
Trọn đời không khởi ác tâm
Hại vị mặc áo hoại sắc
Nguyện tự chịu bỏ thân mạng
Trọn đời không khởi ác tâm
Đối với các bậc xuất gia.

Nói bài kệ xong, sư tử liền ngã xuống chết. Người thợ săn lột da đem dâng vua. Nhưng khi vua nghe xong câu chuyện, thấy rõ ác tâm của người thợ săn, rất cảm động trước lòng trọng Tam Bảo của con sư tử, bèn sai chém người thợ săn, và đem xác con sư tử làm lễ trà tỳ thiêu thân, xem như là một vị Sa-môn vậy, sư tử Kiên Thệ là một tiền thân của Đức Phật Thích Ca.

Phỏng dịch Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân

3- QUẢ BÁO LÀM MẸ ĐAU KHỔ

Khi chàng Métracanyca (Mê-tra-ca-ny-ca) đến tuổi trưởng thành chàng hỏi mẹ rằng: “Thưa mẹ thuở trước cha con làm nghề gì?”. Bà mẹ đáp: “Hồi trước cha con làm nghề đi buôn trong nước”. Sự thật, cha chàng làm nghề hàng hải, đi buôn ngoài biển cả sau bị chết đắm, bà sợ con theo nghề cha nên phải nói dối. Chàng liền đi buôn và ngày đầu chàng lời được bốn đồng. Chàng đem bốn đồng giao mẹ và thưa rằng: “Mẹ ơi! Mẹ hãy giữ lấy số tiền này mà giúp đỡ các vị Sa-môn, các vị Bà-la-môn, mấy người nghèo khổ và các người ăn xin”.

Nhưng có người nói với chàng rằng: “Thuở xưa ông thân chàng làm nghề bán dầu thơm”. Chàng liền bán dầu thơm và bán lời được tám đồng. Chàng giao hẳn số tiền ấy cho mẹ. Sau có người nói ông thân chàng trước kia bán đồ nữ trang. Chàng bèn bỏ tiệm dầu thơm lập tiệm bán đồ nữ trang, ngày đầu bán lời được 16 đồng, ngày thứ hai bán lời được 32 đồng. Chàng cũng đưa hết số tiền ấy cho mẹ, nhưng mấy chủ tiệm bán nữ trang sợ chàng giành nghề của họ, bèn tới nói với chàng rằng: “Sao chàng lại không làm nghề hàng hải như ông thân chàng, lại đi làm nghề hèn mọn bán đồ nữ trang như thế này?”.

Chàng liền về thưa mẹ rằng: “Thưa mẹ có phải là cha con làm nghề hàng hải không? Mẹ cho con theo nghiệp nhà, đi buôn ngoài bể cả như cha vậy”. Bà mẹ phải thú thật rằng: “Phải, cha con trước làm nghề hàng hải, nhưng bị nạn chết đắm ngoài bể khơi. Mẹ nay chỉ có một mình con, con nỡ nào bỏ mẹ cô độc ra ngoài bể cả sao”. Nhưng chàng không nghĩ đến nỗi đau khổ của người mẹ, sai người đánh chuông rao trong thành Ba-la-nại rằng: “Này các thương gia đáng tôn kính! Chàng Métracanyca sắp đi buôn xa. Vậy ai muốn đem hàng ra hải ngoại bán thì cứ đi chung với người, khỏi phải đóng thuế gì hết”.

Chàng ra đi với 500 người lái buôn, có đem theo hàng hóa thú vật rất nhiều. Bà mẹ quá thương con, ôm lấy chân con và khóc rằng: “Con ơi! Con hãy thương mẹ đừng có bỏ mẹ đi ra ngoài bể cả”. Bà hết lời cầu xin, nhưng chàng đã quyết định rồi, nên bước ngang trên đầu mẹ mà đi với các người lái buôn. Bà mẹ khóc và nói rằng: “Mẹ cầu cho con khỏi bị quả báo đã làm cho mẹ đau khổ và bước qua đầu của mẹ”..

Chàng ra biển đi buôn, nhưng bị đắm thuyền, sau nhờ đeo trên một tấm ván vào được đất liền. Chàng đi đến một thành tên là Ramamaka, liền có bốn nàng tiên đẹp đẽ đến chào mời rằng: “Chào chàng Métracanyca, đây là đền đài của chúng em, đủ tất cả những sự khoái lạc ở đời. Chàng vào đây chung vui với chúng em”. Chàng ở đó trong một vài năm hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm một việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau chàng lấy làm buồn ý, bỏ xuống miền Nam.

Chàng đến thành Sadamaham, ở đó có tám tiên nữ đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm một việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau chàng thấy buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Chàng đến thành Nandana. Ở đó, có 16 nàng tiên đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng tất cả những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng. Sau chàng lấy làm buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Chàng đến thành Bramottora. Ở đó có 32 nàng tiên đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng và vật chất, tuồng như đã làm một vài việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau mặc dù những lời khuyên can của mấy nàng tiên chàng vẫn lấy làm buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Càng đi về phía Nam, chàng càng muốn đi. Đi mãi gặp một cái thành bằng sắt. Chàng vừa bước vào thì cửa thành tự đóng lại. Chàng bước tới. Thời gặp một người to lớn trên đầu đội một vành sắt, cháy đỏ, lửa phun sáng ngời. Máu mủ trên đầu chảy tràn xuống miệng, người ấy liếm lấy và nuốt luôn.

Chàng hỏi rằng: Nhà ngươi là ai mà bị hình phạt đau khổ dữ dội như vậy. Người chịu khổ như thế này bao lâu?”. Người ấy đáp: “Tôi là người đã làm cho mẹ tôi đau khổ, nên nay chịu khổ báo cho đến khi có một người khác cũng đã tạo nghiệp nhân làm mẹ đau khổ đi ngang đây và thay thế cho tôi”.

Chàng Métracanyca liền nghĩ rằng: “Chính  ta đã làm cho mẹ ta phải khổ và chính sức mạnh của nghiệp nhân dắt dẫn ta đến đây. Nay ta phải vui lòng chịu quả báo này”. Chàng nghĩ xong, thời vành lửa sắt kia bay qua đội trên đầu chàng. Người kia liền hỏi rằng: “Chàng đã hưởng sự khoái lạc trong bốn cảnh đền đài kia, sao chàng đến đây làm gì?”. Chàng đáp: “Tôi được hưởng hạnh phúc trong bốn cảnh đền đài ấy là vì trước kia tôi đã tạo nghiệp nhân đem số tiền 4 đồng, 8 đồng, 16 đồng và 32 đồng dâng cho mẹ để làm việc thiện. Tôi phải đến đây là vì trước kia tôi đã làm mẹ tôi đau khổ; tôi đã bước ngang trên đầu mẹ tôi để ra đi biển cả, mặc dầu mẹ tôi ôm chân tôi năn nỉ khóc lóc. Chính sức mạnh của nghiệp nhân ấy đưa tôi đến đây. Và tôi bắt buộc đội  vành lửa này bao lâu?”. Người kia đáp: “Chàng phải đội vành lửa này 60 ngàn và 60 lần 100 năm. Rồi sẽ có người phạm tội như chàng, cũng đã làm cho mẹ phải đau khổ sẽ đến mà chịu khổ thay cho chàng”. Chàng Métracanyca tuy bị đau khổ vô cùng, nhưng lòng chàng tràn đầy lòng thương yêu chúng sanh vô lượng, chàng phát nguyện rằng: “Này người ơi! Tôi xin nguyện đội vành này vì chúng sanh. Tôi nguyện tất cả chúng sanh không một ai còn manh tâm làm cho mẹ mình phải chịu đau khổ và nếu có ai làm cho nước mắt bà mẹ tuôn chảy vì mình, thì tôi xin nguyện chịu khổ thế cho người ấy!”.

Chàng phát nguyện xong, thời vành lửa rời khỏi đầu chàng và bay lên hư không, chàng liền mệnh chung và được sanh lên cõi trời Đâu Suất.

Phỏng theo Kinh Avadana Calaka, theo tài liệu trong quyển “Triết Lý Đạo Phật” của Đoàn Trung Còn.

Được học hiểu đôi chút mà tự cao khinh người, không khác người mù cầm đuốc soi sáng người mà không tự soi sáng mình.
KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ

HIỂU PHẬT PHÁP TĂNG
BA QUY Y, SÁU HÒA KỈNH

 

A- PHẬT, PHÁP, TĂNG

ĐỊNH NGHĨA

Phật Pháp Tăng là ba ngôi quý báu hơn hết không ai có thể sánh bằng.

I. PHẬT BẢO

a. Định danh: Tiếng Phạn là Phật-đà có ba nghĩa: Tự giác: tự mình đã giác ngộ. Giác tha: giác ngộ cho mọi loài cũng đồng giác ngộ như mình. Giác hạnh viên mãn: hai công hạnh ấy hoàn toàn viên mãn. Từ trước đến nay, có nhiều vị như vậy, như Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Dược Sư, Đức Phật Di Lặc v…

b. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Đức Phật đem giáo pháp dạy chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta gọi Ngài là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu

c. Tiếng tốt của Đức Phật: Do công hạnh tu tập Ngài có 32 tướng tốt; trên đầu có nhục kế biểu hiện trí huệ hoàn toàn, thân thể và trên đầu có hào quang (trí huệ sáng suốt), hai tai dài (thọ mạng lâu dài). Mặt tròn như trăng rằm, khác với gương mặt chúng sanh, hai mắt trong xanh như nước biển, giữa hai chân mày có một sợi dài  trắng uyển chuyển như núi Tu Di, giữa ngực có chữ Vạn, chân tay tròn đầy, da mịn bao bọc, dưới chân có 1.000 xoáy tròn v.v…

d. Đức hạnh trí huệ của Đức Phật: Đức Phật đầy đủ năm hạnh: Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.

Tinh tấn: Tu khổ hạnh 6 năm, ngồi thiền định 49 ngày dưới cây Bồ-đề, giáo hóa hơn 49 năm, chịu cực khổ đói rét. Trải qua nhiều gian lao cực khổ Ngài vẫn cương quyết tìm đạo giáo hóa chúng sanh không thoái chí.

Hỷ xả: Hy sinh quốc thành thê tử tìm đạo cứu chúng sanh không một niệm luyến tiếc. Trải qua các sự gian lao, Ngài vẫn hoan hỷ hành đạo, không một niệm thoái chuyển.

Thanh tịnh: Thân thể ánh sắc vàng trong trắng như lưu ly. Lời nói chơn thành đúng chơn lý, không nói lời độc ác, nói dối, luôn luôn hòa nhã êm dịu. Tâm hồn ý nghĩ thanh tịnh không có tham, sân, si, kiêu mạn.

Trí huệ: Trí huệ của Đức Phật hoàn toàn, hiểu biết cùng khắp thông suốt hiểu thấu căn cơ chúng sanh, rõ biết vạn vật.

Từ bi: Đức Phật có lòng từ bi vô lượng, thương xót cứu hộ cho tất cả chúng sanh, từ loài người cho đến loài vật, không loài nào là không cứu độ.

II. PHÁP BẢO

a. Định danh: Pháp là lời dạy của Đức Phật hoặc các vị Bồ-tát vâng theo lời Phật mà nói hoặc các vị Tổ sư làm ra. Lời dạy tuyên dương chơn lý, có thể đưa mọi loài thoát khổ được vui, nên gọi là Pháp bảo tôn quý nhứt trên đời.

b. Các món Pháp bảo: Pháp bảo gồm có ba món:

Kinh: Là lời dạy của Đức Phật, của các vị Bồ- tát vâng theo lời Phật dạy mà nói. Như Kinh Lăng Nghiêm, Kinh 42 Chương v.v…

Luật: Là những giới luật do Đức Phật thân chế cho các hàng xuất gia, tại gia tu hành, như Năm giới của Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Mười giới cho Sa-di, 250 giới cho hàng Tỳ-kheo v.v…

Luận: Là lời luận bàn về Kinh điển của các vị Tổ sư nói rộng các yếu nghĩa trong Kinh luật cho dễ hiểu như Luận Khởi Tín, Luận Nhân Minh v.v…

c. Đặc tính của Pháp bảo:

Quý nhứt trên đời. Nhờ Pháp bảo, chúng sanh chứng được chơn lý, trừ khổ, được vui, được giải thoát.

Đúng sự thật đúng chơn lý: Lời Phật dạy, lời các vị Tổ sư đều đúng với sự thật, đúng với sự hiểu biết chơn chánh.

Hợp với căn cơ của mọi loài, mọi người: Hợp với trình độ, hợp với tâm tánh từng người, từng loài.

III. TĂNG BẢO

a. Định danh: Tăng bảo là một đoàn thể xuất gia tu hành theo Đạo Phật, gồm ít nhứt là 4 người trở lên, và sống theo Sáu pháp hòa kỉnh.

b. Đặc tính Tăng bảo:

Quý nhứt trên đời: Vì là một đoàn thể tập sống đúng như lời Phật dạy, giữ giới luật oai  nghi, làm gương mẫu cho mọi người, chỉ dạy cho mọi người phương pháp thoát khổ được vui.

Sống đời thanh tịnh: Không có gia đình vợ con, không theo danh lợi, ăn chay đạm bạc, siêng tu khổ hạnh, giữ giới luật Phật dạy.

Luôn luôn nghiên cứu Kinh điển: Ngủ ít học nhiều, suy tìm nghiên cứu để hiểu thấu lời Phật dạy chứng thật được chơn lý. Làm gương sáng cho mọi người.

c. Các hàng Tăng chúng: Sa-di là hàng nam tử xuất gia giữ Mười giới, Sa-di-ni là hàng đàn bà xuất gia giữ Mười giới. Thức-xoa-ma-na là hàng

học giới nữ giữ Sáu giới và tập hạnh Tỳ-kheo-ni. Tỳ-kheo là hàng nam tử xuất gia giữ 250 giới. Tỳ- kheoni là đàn bà xuất gia giữ 350 giới.

IV. KẾT LUẬN

Phật Pháp Tăng là ba món quý báu nhứt trên đời đối với một người Phật tử là gương mẫu chơn chánh cho Phật tử noi theo, là ruộng phước cho tất cả chúng sanh gieo các hột giống tốt lành.

B- QUY Y PHẬT PHÁP TĂNG

ĐỊNH NGHĨA

Quy: là trở về; từ trước đi con đường sai lầm nay trở về con đường chánh; từ trước theo các hàng ngoại đạo, ác đảng, nay trở về với chơn lý, các bậc sáng suốt, hiền đức; từ trước ở trong trói buộc đau khổ nay trở về với giải thoát an vui.

Y: là nương tựa y cứ vâng theo và sống theo, từ lời nói ý nghĩa cho đến việc làm nhứt nhứt đều y cứ nương tựa sống theo. Quy y ba ngôi báu tức quy y Phật, Pháp và Tăng.

1. Quy y Phật: Là trở về với Đức Phật không theo các thượng đế tà sư, không theo ma quỷ thiên thần, chỉ nương tựa y cứ theo Đức Phật mà sống, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm nhứt

nhứt đều y cứ vâng theo Đức Phật, noi theo gương mẫu Phật mà làm.

2. Quy y Pháp: là trở về với pháp Phật dạy, không theo các ngoại đạo tà giáo, y cứ nương tựa theo những lời dạy của Đức Phật, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm, nhứt nhứt đều y cứ tuân theo đúng như pháp Phật.

3. Quy y Tăng: Là trở về với Tăng bảo, là đoàn thể Tăng già xuất gia tu hành, không theo các bạn bè độc ác có hại, từ lời nói, ý nghĩ đến việc làm đều noi theo gương mẫu các vị xuất gia hoặc theo lời chỉ bảo của các vị xuất

4. Lễ quy y: Lễ quy y là phát nguyện trước Phật Pháp Tăng xin nguyện trọn đời quy y Phật Pháp Tăng, thề quyết không theo các thượng đế tà sư, thiên thần, quỷ vật, ngoại đạo, tà giáo, bạn bè độc ác. Có một vị xuất gia chứng minh cho lời phát nguyện này và đặt cho một pháp danh. Vị chứng minh này sẽ thành vị bổn sư của người phát nguyện làm lễ quy y. Khi làm lễ quy y rồi, mới chính thức được gọi là Phật tử.

5. Kết luận: Quy y Phật Pháp Tăng là một cử chỉ rất quan trọng, định đoạt và cải tạo hẳn đời sống của mình. Từ giờ phút làm lễ quy y xong, là bước trên một con đường mới mẻ luôn luôn, được Phật Pháp Tăng soi sáng chỉ đường và che chở.

C- SÁU MÓN HÒA KỈNH

1. Thân hòa đồng trú: Chung một việc làm, chung sống một chỗ với nhau. Như các vị xuất gia chung sống trong một chùa, y phục giống nhau, công việc chung làm với nhau, bao giờ cũng đồng chung cả.

2. Khẩu hòa, không cãi mắng nhau: (Khẩu hòa vô tránh) không dùng lời nói thô ác, cãi mắng nhau. Như các vị xuất gia trong một chùa không ai cãi mắng to tiếng với nhau. Có điều gì không đồng ý, thời cùng nhau lấy lời hòa nhã giải thích biện luận cho nhau đồng hiểu.

3. Ý hòa đồng dung hiệp nhau: (Ý hòa đồng duyệt) nghĩa là ý kiến dung hòa với nhau, không có mỗi người mỗi ý, khác với trong chúng. Như các vị xuất gia trong một chùa, làm việc gì cũng hỏi ý kiến nhau, sau khi toàn thể thỏa thuận mới thi hành.

4. Giới hòa đồng tu với nhau: (Giới hòa đồng tu) nghĩa là trong chúng đồng tuân theo, giữ theo những giới luật, như các vị xuất gia trong một chùa chung giữ những giới luật Phật chế, tùy theo hàng Tăng số của mình. Như chúng Sa-di thời giữ Mười giới.

5. Lợi hòa đồng phân chia với nhau: (Lợi hòa đồng quân) nghĩa là có những quyền lợi gì thời đồng chia đều với nhau. Như trong một ngôi chùa, phàm có ai cúng một vật gì, đều chia đồng đều trong chúng không có kẻ ít người nhiều.

6. Kiến hòa đồng giải cho nhau hiểu: (Kiến hòa đồng giải) nghĩa là mọi sự hiểu biết đều đồng giải cho nhau cùng hiểu, như các vị xuất gia trong một chùa, đều chung học giáo lý của Đức Phật và giúp nhau cùng hiểu giáo lý của Đức Phật.

7. Kết luận: Chính Đức Phật đã đặt ra sáu món Hòa kỉnh này làm nguyên tắc căn bản cho các bậc xuất gia chung sống với nhau; và chính các ngôi chùa, các tùng lâm, hàng trăm hàng ngàn Tăng chúng đã sống đúng theo sáu món Hòa kỉnh này. Sáu món Hòa kỉnh này đem sự hòa đồng trong chúng, để cùng nhau sống theo lời dạy của Đức Phật, tinh tấn trên con đường giải thoát và giác ngộ của chư Phật.

Bố thí là kho châu báu thường theo người bố thí là nhóm điều vui, trừ đau khổ.
LUẬN TRÍ ĐỘ

ĂN CHAY, NIỆM PHẬT

A- ĂN CHAY

I. LỜI NÓI ĐẦU

Em vào Đoàn, nghe anh chị Đoàn trưởng khuyên em ăn chay. Em muốn vâng lời anh chị Đoàn trưởng; vậy em cần biết ăn chay là thế nào và cách ăn chay ra sao? Có vậy việc làm của em mới có ý nghĩa và khỏi bị những sự sai lầm.

II. Ý NGHĨA ĂN CHAY

Ăn chay là một phương pháp Phật dạy các em làm để thay thế ăn mặn, ăn chay là ăn các món ăn không có sanh mạng, như rau, trái, uống các thứ sữa v.v… Trái lại, như ăn các loài chim, ăn trứng, dùng nước mắm cũng thuộc về ăn mặn.

III. VÌ SAO ĐỨC PHẬT DẠY CÁC EM ĂN CHAY?

Đức Phật là một vị có lòng thương các em, thương mọi loài, nên Đức Phật dạy các em ăn chay để các em tăng trưởng lòng từ bi, khỏi giết hại súc vật, để bỏ dần tánh độc ác, để các loài súc vật khỏi bị giết hại.

IV. EM ĂN CHAY SẼ ĐƯỢC NHỮNG LỢI ÍCH GÌ?

Đức Phật là một vị sáng suốt, lời dạy của Ngài bao giờ cũng đem lại sự lợi ích thiết thực cho các em, nếu các em làm theo Ngài. Các em ăn chay sẽ được những lợi ích sau đây:

  1. Thân thể được khỏe mạnh đỡ bệnh tật, các em làm việc được dai sức: Trong hoa quả rau sữa có nhiều chất bổ, chất đạm rất cần cho sức khỏe của thân thể. Các món ăn chay sạch sẽ nhẹ nhàng, dễ tiêu hóa nên trong người khỏe. Trái lại thịt cá lâu tiêu, tanh hôi hay khiến thân thể mệt mỏi nhiều bệnh. Ăn chay lại được dai sức, làm lâu mệt, ít biết mỏi, chịu đựng nhiều sự khó nhọc.
  2. Trí não em được sáng suốt, tánh tình em được thuần hậu: Khi các em ăn nhiều thịt, trí não nặng nề mệt nhọc, khó nhớ lâu và nhiều, vì các món thịt cá khó tiêu và hay kích thích tâm trí. Trái lại ăn chay thời trí não được nhẹ nhàng, điềm tĩnh, sáng suốt, nhớ lâu, nhớ nhiều. Ăn mặn thời tánh tình hay gắt gỏng khó chịu, nhiều lòng tham, vì thịt có nhiều chất kích thích tánh tình, dễ nhiễm tánh ác. Trái lại ăn chay thời tánh tình thuần hậu, vui vẻ, biết thương loài vật, biết thương mọi người.
  3. Em ăn chay, em sẽ được thành Phật, em được bước đầu trên đường Đạo, em được mọi người thương kính: Em ăn chay là em vâng lời Phật dạy là tưởng nhớ đến hạnh từ bi cao cả của Đức Phật, tức là em đi dần trên con đường đạo từ bi, sẽ dần dần gần Đức Phật. Đức Phật tưởng nhớ tới em, an ủi hộ trì cho em. Em ăn chay lại được mọi người thương kính vì ăn chay là có lòng thương mọi loài, là biết chịu khó, biết cố gắng sửa tánh tình và như vậy em sẽ được nhiều người thương kính. Em ăn chay lại được các loài vật có lòng thương mến vì em không sát hại các loài sinh vật. Em có hiểu vì sao Đức Phật lại được mọi người tôn kính hay không? Em có hiểu vì sao các loài vật lại thường cung kính quanh hầu Đức Phật mỗi khi gặp Ngài hay không? Chỉ vì Đức Phật hành trì hạnh từ bi, chỉ vì Đức Phật trải qua nhiều đời nhiều kiếp luôn luôn ăn chay không sát hại các loài sinh vật.
  4. Em ăn chay tức là em tập sống giản dị đỡ tốn kém: Các thứ rau trái rẻ tiền, lại đạm bạc đúng với hạnh thanh bạch của một Phật tử.

V. ĂN CHAY NHƯ THẾ NÀO?

Các em đã hiểu ý nghĩa ăn chay và biết những sự lợi ích của sự ăn chay. Vậy nay các em cần phải ăn chay như thế nào?

1. Ăn chay có nhiều cách:

a. Ăn chay trường tức là ăn chay trọn đời, không bao giờ ăn mặn.

b. Ăn chay kỳ tức là một năm nguyện ăn vài tháng hoặc trong một tháng nguyện ăn vài ngày. Như trong một năm, nguyện ăn chay ba tháng thì ăn vào tháng Giêng, tháng Bảy và tháng Mười. Trong một tháng, có thể nguyện ăn mười ngày là ăn vào các ngày mồng 1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (tháng thiếu thì 27). Ăn sáu ngày là ăn vào các ngày 1, 8, 14, 15, 23, 30 (tháng thiếu thì tính ngày 29). Ăn bốn ngày là mồng 1, 14, 15, 30; hoặc ăn hai ngày vào ngày mồng 1 và Rằm.

2. Ăn chay như thế nào?

a. Em đã phát nguyện ăn chay, vậy em phải nhớ những điều sau này: ăn chay hai ngày, ngày Rằm và mồng

b. Đã phát nguyện ăn chay thì trọn đời giữ theo không vì trường hợp gì mà bỏ qua, trừ khi đau bệnh nặng có thể khỏi giữ, nhưng lành bệnh phải giữ lại.

c. Các món ăn chay đạm bạc, đừng có quá sang trọng quá phiền phức, cũng đừng ăn quá kham khổ và đừng làm phiền nhiễu nhiều người.

d. Ăn chay một cách tự nhiên, đừng khoe khoang, đừng làm bộ, đừng khinh người không ăn.

đ. Trong những ngày vía, những ngày đi trại, nên ăn chay.

VI. GƯƠNG SÁNG GIỮ HẠNH ĂN CHAY

Cao hơn tất cả, các Đức Phật trong mười phương đều giữ hạnh ăn chay, từ kiếp này cho đến kiếp khác, không bao giờ giết hại một sanh linh nào. Gần các em hơn, có các vị xuất gia trọn đời ăn chay, các vị cư sĩ tại gia phát tâm ăn chay trọn đời.

VII. KẾT LUẬN

Ăn chay là một phương pháp Phật dạy cho các em thực hành. Các em là Phật tử, các em theo lời Ngài dạy, tức là các em tiến tới gần Ngài, tức là các em theo đúng mục đích của Gia đình Phật tử.

B- NIỆM PHẬT

I. LỜI NÓI ĐẦU

Em đã biết Đức Phật, em thấy Đức Phật đức hạnh hoàn toàn, trí huệ đầy đủ. Em thấy em có nhiều tánh xấu, nhiều ngu dốt, em muốn được như Đức Phật, em muốn tiến gần Đức Phật, em nên niệm Phật, và trước khi em niệm Phật, em hãy tìm hiểu ý nghĩa niệm Phật và cách thức niệm Phật.

II. Ý NGHĨA NIỆM PHẬT

Niệm Phật là một phương pháp Phật dạy các em thực hành để các em được gần Phật, và được như Đức Phật. Niệm Phật có những nghĩa chính như sau:

1. Niệm Phật là tụng các kinh Phật, những lời Phật dạy, những danh hiệu chư Phật và các vị Bồ-tát, như khi em tụng Kinh Vu Lan hay tụng danh hiệu Phật.

2. Niệm Phật là suy tưởng đến đức Phật, tán thán cúng dường các đức Phật. Như khi niệm đức Quán-Thế-Âm tưởng niệm đến hạnh từ bi của Ngài.

3. Niệm Phật là sám hối những lỗi lầm, là nguyện làm các việc lành, nguyện theo lời Phật dạy: như các em niệm sám hối, bài bốn nguyện lớn.

4. Niệm Phật là quán tưởng đến tướng tốt đẹo của chư Phật: như khi em vừa niệm Phật, vừa tưởng tượng những tướng tốt của đức Phật.

5. Niệm Phật là cầu đức Phật gia hộ cho, như khi em tụng kinh cầu an để khỏi tật bệnh nguy nan, tụng kinh cầu siêu để nhờ đức Phật tiếp độ hương linh vãng sanh nước Cực-Lạc.

III. VÌ SAO PHẬT KHUYÊN EM NIỆM PHẬT?

Các em cũng thường hay đau khổ, các em cũng có những tánh tình không tốt đẹp. Đức Phật dạy các em niệm Phật để sửa đổi tánh tình các em trở nên tốt lành để đỡ sự đau khổ cho các em. Các em nhiều khi cũng gặp nhiều sự chẳng may, Đức Phật dạy các em niệm Phật để tránh các tai nạn, luôn luôn vui vẻ, được nhiều phước đức. Các em nhiều khi mê mờ không rõ đường đi, các em niệm Phật tức là các em được Đức Phật chỉ rõ hướng đi chơn chánh cho các em.

IV. EM NIỆM PHẬT ĐƯỢC NHỮNG LỢI ÍCH GÌ?

Em niệm Phật, em niệm thành tâm chuyên nhứt em sẽ thấy nhiều sự lợi ích đến với các em.

1. Em niệm Phật, em sẽ được gần Phật, em sẽ được Đức Phật che chở hộ trì. Đức Phật bao giờ cũng thương các em tưởng nhớ đến các em, nên các em niệm Phật tức được gần Đức Phật, được sống một bên Phật, được chư Phật che chở hộ trì.

2. Em niệm Phật, em sẽ thấy đổi tánh tình ngay. Em niệm Phật tức là em niệm những đức tánh tinh tấn, hỷ xả, thanh tịnh, trí huệ, từ bi, tức là các em huân tập được các hạnh ấy. Đức Phật là gương sáng của muôn hạnh lành, hằng ngày các em soi vào gương sáng thì muôn hạnh lành sẽ đến với các em. Các em không thể buồn khi niệm đến hạnh hỷ xả của Đức Phật Di Lặc, các em không thể biếng nhác khi niệm đến hạnh tinh tấn của Đức Phật Thích Ca Mâu

3. Em niệm Phật, tức được mọi người kính yêu; Đức Phật là một vị ai cũng tôn kính. Em niệm Phật em sẽ được mọi người yêu vì họ thấy ở nơi em, một mầm non hướng đến Đức Phật, một hình ảnh trung thành của đạo từ

4. Em niệm Phật, sẽ đỡ được những nỗi đau khổ và luôn luôn vui vẻ. Đạo Phật là đạo của an lạc, của chơn hạnh phúc, niệm Phật, em thấy em sống trong khung cảnh hoan hỷ, trong không khí hòa thuận, tin yêu, vui vẻ.

V. EM NIỆM PHẬT NHƯ THẾ NÀO?

Niệm Phật có nhiều cách, em muốn theo cách nào cũng được.

1. Tụng niệm: Tức đứng trước bàn Phật, niệm lớn tiếng có chuông có mõ.

2. Mật niệm: Là niệm nhỏ tiếng, niệm thầm. Như gặp chỗ không có bàn Phật hoặc trước khi đi ngủ, khi sáng dậy, em niệm thầm, nho nhỏ, vừa em nghe là được.

3. Khẩu niệm: Là khi em gặp những sự đau khổ hoặc tai nạn, em niệm đức Quan Thế Âm một cách khẩn thiết, chí thành, v.v… khi đau em niệm Đức Dược Sư, khi có người sắp mất, khi cầu siêu, em niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà.

4. Quán niệm: Là đứng trước hình ảnh của Đức Phật, em chiêm ngưỡng tướng tốt của Đức Phật, hoặc tưởng tượng như có Đức Phật ở trước mắt.

5. Chuyên niệm: Là đi đứng nằm ngồi, phàm làm việc gì, hoặc gặp việc gì, luôn luôn em nhớ đến Phật, lúc nào cũng niệm Phật.

Đối với năm cách niệm Phật, em có thể niệm cách nào cũng được, nhưng cần thiết nhứt là cách chuyên niệm. Em là Phật tử, là con Phật, em luôn luôn niệm Phật, nhớ nghĩ đến lời dạy của Đức Phật, vâng theo lời Phật dạy, luôn luôn niệm Phật. Khi chán nản biếng nhác, em niệm hạnh tinh tấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni; lúc em giận buồn, em niệm hạnh hỷ xả của Đức Phật Di Lặc. Khi em nhiều lòng tham, em niệm hạnh thanh tịnh của Đức Phật A Di Đà. Khi em không hiểu hay si mê, em niệm hạnh trí huệ của đức Văn Thù; khi em có ý hại người em niệm hạnh từ bi của đức Quán Thế Âm.

Mỗi ngày trước khi đi ngủ, em hãy tự xét trong ngày đó em đã làm những gì; trong năm hạnh của Phật tử, em đã phạm những gì. Có lỗi, em thành tâm niệm bài sám hối và niệm danh hiệu các Đức Phật, các vị Bồ-tát và phát nguyện cố gắng sống, cố gắng thực hành theo năm hạnh của Phật tử. Nếu trong nhà có bàn Phật, trong một ngày em không nhớ nghĩ tới Phật, tức em không phải Phật tử. Em đã tự xưng là Phật tử, thì chính các em không muốn không niệm Phật, tức là các em niệm Phật. Vậy các em hãy cùng nhau niệm Phật đi.

VI. KẾT LUẬN

Em muốn như Đức Phật nên em phải niệm Phật. Một tiếng niệm Phật tức là em tiến một bước gần Phật; luôn luôn niệm Phật tức các em đứng gần Đức Phật, em sống một bên Đức Phật. Đức Phật đã ở xung quanh em, Đức Phật ở chính trong lòng các em, Đức Phật cùng với em hòa giao trong niềm cảm ứng thanh tịnh của chư Phật trong mười phương.

Nước định trong lặng thì tâm châu tự hiện.
TỌA THUYỀN NGHI

HIỂU VÀ THUỘC
NGHI THỨC THÔNG THƯỜNG

 

A- DANH HIỆU

I. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

1- Nam mô có sáu nghĩa: Quy y: Quy là về, y là nương tựa, nghĩa là quy về nương tựa theo Đức Phật. Quy mạng: Quy gởi thân mạng của mình. Cung kính: Là tôn trọng kính ngưỡng Đức Phật. Cứu ngã: Xin Đức Phật cứu độ cho con. Lễ bái: Xin kính lễ bái Đức Phật. Độ ngã: Xin Đức Phật đưa con từ chỗ đau khổ đến chỗ an vui, từ chỗ sai lầm đến chỗ giác ngộ.

2.- Bổn sư là vị thầy cội gốc đem Đạo Phật đến cho chúng sanh và chỉ dạy chúng sanh con đường giải thoát giác ngộ. Đây chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì nhờ Ngài mà chúng ta được hiểu biết Đạo Phật.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là xin đem cả thân mạng y chỉ, quy ngưỡng Đức Thích Ca, nguyện cung kính lễ bái Ngài, nguyện Ngài cứu độ cho mình thoát khỏi các sự đau khổ mê lầm.

II. NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Là đem cả thân mạng quy ngưỡng lễ bái Đức Phật A Di Đà, và nguyện Ngài cứu độ.

III. NAM MÔ ĐƯƠNG LAI HẠ SANH DI LẶC TÔN PHẬT

Đương lai: Là sẽ đến. Hạ sanh: Là giáng xuống cõi Ta Bà này. Di Lặc Tôn Phật: Tức Đức Phật Di Lặc sẽ giáng sanh xuống cõi Ta Bà này sau Đức Phật Thích Ca. Di Lặc có hai nghĩa: Từ Thị: Tức là một vị có lòng thương rộng lớn. Vô Năng Thắng: Tức là có trí huệ từ bi thù thắng không ai sánh kịp. Đức Di Lặc là gương sáng của hạnh hỷ xả.

IV. NAM MÔ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT

Văn Thù Sư Lợi là vị Bồ-tát có trí huệ đệ nhứt thường cưỡi con sư tử tượng trưng cho sức mạnh trí huệ soi sáng và uốn dẹp các tối tăm mê lầm. Văn Thù là gương sáng của hạnh trí huệ.

V. NAM MÔ ĐẠI HẠNH PHỔ HIỀN BỒ TÁT

Đại hạnh: Là những hành động vĩ đại, cao siêu, khác thường, ít người làm nổi. Phổ Hiền: Là vị Bồ-tát có những hạnh nguyện vĩ đại cứu độ cho mọi loài, thường hầu bên tay phải Đức Phật Thích Ca và hay cưỡi con voi trắng 6 ngà tượng trưng cho sức mạnh các hạnh nguyện vị tha rộng lớn.

VI. NAM MÔ ĐẠI BI QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Đại bi: Là có lòng từ bi rộng lớn cứu độ cho tất cả chúng sanh. Quán Thế Âm: Là vị Bồ-tát quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh mà đến hóa độ. Ngài là gương sáng của hạnh từ bi.

VII. NAM MÔ LINH SƠN HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT

Linh Sơn: Là hòn núi Kỳ-xà-quật ở Ấn Độ một chỗ Đức Phật thường hay thuyết pháp. Hội thượng: là chúng hội nghe pháp, gồm các vị Bồ- tát đại đệ tử nên xưng là Hội thượng, đây chỉ cho các Đức Phật, các vị Bồ-tát, các vị đại đệ tử hội họp trên núi Linh Sơn nghe Đức Phật Thích Ca thuyết pháp.

B- BÀI MƯỜI PHƯƠNG PHẬT BA ĐỜI

Bài này tán thán Đức Phật A Di Đà, phát nguyện vãng sanh qua nước Cực Lạc và nguyện tu học để cứu độ chúng sanh.

  1. Mười phương Phật ba đời: Là tất cả Đức Phật trong mười phương ở hiện tại, quá khứ và vị
  2. A Di Đà bậc nhứt: Là Đức Phật A Di Đà hơn hết không có Đức Phật nào bằng, ý nói tu theo Đức Phật A Di Đà thì mau chứng quả hơn hết.
  3. Cửu phẩm độ chúng sanh: Chín phẩm là chín từng bậc; căn tánh chúng sanh cao thấp khác nhau, nên vãng sanh qua nước Cực Lạc đạt đến những phẩm bậc sai khác nhau. Chín phẩm là hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; Trung hạ, trung trung, trung thượng; Thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Ý nói Đức Phật A Di Đà tùy theo căn tánh chúng sanh mà độ tất cả mọi loài vãng sanh qua nước Cực Lạc, đạt đến những phẩm bậc sai khác nhau.
  4. Oai đức không cùng cực: Oai là cử chỉ oai nghi nghiêm trang khiến mọi người kính nể. Đức là đức hạnh. Oai đức của Đức A Di Đà vô cùng tận không thể so sánh ước lượng được.
  5. Đệ tử nguyện quy y: Đệ tử phát nguyện xin quy y Đức Phật A Di Đà.
  6. Sám hối ba nghiệp tội: Xin sám hối tất cả những tội lỗi về thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
  7. Phàm được bao phước thiện: Là phàm có làm bao nhiêu việc phước đức thiện sự.
  8. Chí tâm nguyện hồi hướng: Thành tâm khẩn thiết nguyện xin hồi hướng công đức đã làm trên.
  9. Nguyện cùng người niệm Phật: Nguyện cùng đồng với người niệm Phật.
  10. Cảm ứng hiện theo cảnhCảm: Là những việc làm của mình, có sức mạnh ảnh hưởng đến xung quanh. Ứng: Là theo sức mạnh cảm thông ấy, xung quanh ứng đối lại. Như nói là cảm, tiếng vang dội lại là ứng. Đây nói do lòng thành niệm Phật của mình (cảm) mà cảnh Tịnh Độ hiện ra trước mắt (ứng). Sự cảm ứng hiện ra tùy theo mình phát tâm niệm Phật.
  11. Lâm chung cảnh Tây phương: Khi gần chết, cảnh Cực Lạc ở phương Tây.
  12. Rõ ràng bày trước mặt: Hiện ra rõ ràng bày trước mặt mình.
  13. Thấy nghe đều tinh tấn: Khiến cho mọi người thấy và nghe, đều phát tâm tinh tấn niệm Phật.
  14. Đồng sanh nước Cực Lạc: Cực Lạc là cảnh giới hết sức sung sướng đẹp đẽ của Đức Phật A Di Đà phương Tây. Người niệm Phật và mình đều cùng được vãng sanh qua nước Cực Lạc.
  15. Thấy Phật thoát sanh tử: Thấy được Đức Phật, liền thoát sự luân hồi sống chết; vì một khi được sanh qua nước Cực Lạc, thì không còn phải sống chết nữa.
  16. Như Phật độ hết thảy: Theo như thệ nguyện của chư Phật mà cứu độ cho tất cả chúng sanh.
  17. Đoạn vô biên phiền não: Là đoạn trừ tất cả tánh phiền não tham sân si không ngằn, không bờ bến.
  18. Tu vô lượng pháp môn: Là tu tập những pháp vô lượng.
  19. Thệ nguyện độ chúng sanh: Xin thệ và phát nguyện cứu độ hết thảy chúng
  20. Đều trọn thành Phật đạo: Hết thảy chúng sanh đều chứng quả thành Phật.

C- BỐN LỜI NGUYỆN RỘNG LỚN

  1. Chúng sanh không có số lượng, thệ nguyện đều độ khắp: Thệ nguyện xin cứu độ tất cả chúng sanh số lượng nhiều không thể kể được. Chúng sanh chỉ cho tất cả loài sanh mạng.
  2. Phiền não không cùng thệ nguyện đều dứt sạch: Thệ nguyện dứt sạch tất cả món phiền não nhiều không cùng tận.
  3. Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học: Xin nguyện tu và học tất cả những pháp môn Phật dạy không thể kể xiết. Pháp môn là chỉ những lời Phật dạy có công năng mở đưa mọi người vào cảnh giới giải thoát.
  4. Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện đều viên thành: Xin nguyện thành tựu một cách viên mãn quả vị Phật đạo cứu cánh.

D- CHÚ VÃNG SANH

Chú là lời bí mật bằng tiếng Phạn do chính Đức Phật nói ra, người thường không thể hiểu và cắt nghĩa. Bài này có công năng tiếp dẫn chúng sanh qua nước Cực Lạc nên gọi là Chú Vãng  Sanh.

Bạt nhứt thiết nghiệp chướng căn bản: Bạt là trừ, nhổ tận gốc rễ hết thảy những nghiệp về thân, khẩu, ý, làm chướng ngại cho giải thoát, những nghiệp này làm cội gốc phát sinh ra các nghiệp khác, nên gọi là căn bản.

Đắc sanh Tịnh Độ Đà-la-ni: Đà-la-ni dịch là Tổng trì, nghĩa là một pháp môn thâu nhiếp các pháp môn khác, bài Chú Vãng Sanh này là một pháp môn thâu nhiếp hết thảy pháp môn khác, có công năng dứt sạch các nghiệp chướng căn bản khiến được vãng sanh qua nước Cực Lạc.

Đ- BA TỰ QUY

Ba tự quy là Tự quy y Phật, Tự quy y Pháp, Tự quy y Tăng. Gọi là tự nghĩa quy y Phật Pháp Tăng chung cùng khắp cả pháp giới.

  1. Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo Đạo cả, phát lòng Vô thượng: Xin quy y Đức Phật cùng khắp pháp giới và xin nguyện cùng với tất cả chúng sanh, thể theo đạo cao siêu nhiệm mầu mà phát tâm Bồ-đề Vô thượng.
  2. Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí tuệ như biển: Xin quy y với Pháp cùng khắp pháp giới và nguyện cùng tất cả chúng sanh thấu rõ ba tạng Kinh điển được trí huệ rộng lớn như biển cả.
  3. Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại: Xin quy y với Tăng cùng khắp pháp giới và nguyện cùng tất cả chúng sanh, điều khiển coi sóc toàn thể đại chúng hết thảy không gì ngăn ngại.

E- HỒI HƯỚNG CHÚNG SANH

Bài này trong Kinh Pháp Hoa, là lời nguyện đem công đức tu hành tụng niệm trên của mình mà hướng về ban bố cho toàn thể chúng sanh tất cả đều được thành Phật như mình.

  1. Nguyện đem công đức này: Công đức là những việc có công năng tăng trưởng phước đức cho mình, cho mọi người. đây là nguyện xin đem tất cả công đức tu hành tụng niệm phước sự của mình.
  2. Chung cùng khắp tất cả: San sẻ chia khắp cho tất cả chúng
  3. Đệ tử và chúng sanh: Tất cả chúng sanh và chính mình.
  4. Đều trọn thành Phật đạo: Tất cả viên mãn thành tựu được chứng quả Phật.

 

Leave a Reply