Tháng 6 năm 2018, ngồi trên ghe đi ngang cổng sau một ngôi chùa Thái ở Bangkok. Một chú tiểu khoảng hơn mười tuổi ngồi nhìn ra sông. Chú nhìn tôi và tôi nhìn chú.
Sông Chao Phraya buổi chiều nhộn nhịp ghe du khách nhưng chú chỉ dõi mắt nhìn theo chiếc ghe nhỏ chở năm người của chúng tôi cho đến khi ghe khuất hẳn sau một khúc quanh. Tôi chưa hề gặp chú và có thể sẽ không còn gặp lại nhưng tự nhiên thấy gần gũi. Dường như có sợi dây tinh thần nào đó níu kéo chúng tôi.
Ngày xưa ở tuổi chú bây giờ tôi cũng hay ngồi nhìn ra sông như thế. Khác chăng, chú đắp y vàng Theravada còn tôi thì không, và sông của chú là sông Chao Phraya còn dòng sông trong tôi là nhánh sông đời quanh co đang chờ tôi bên kia cổng tam quan chùa Viên Giác. Nhưng biết đâu chúng tôi lại có suy nghĩ giống nhau khi nhìn đoàn người đang đi qua trước mặt, tự hỏi họ đi đâu và họ sẽ về đâu.
Ngày xưa ở chùa Viên Giác, trăng mùa thu hòa trong tiếng lá rơi trong sân chùa và lời kinh khuya tạo thành một điệp khúc đưa hồn người vào cõi nào xa xôi, huyền bí. Tôi thường thức dậy nhìn trăng và lắng nghe tiếng lá.
Lẽ ra trăng thu năm nay sẽ tròn và đẹp nhưng trời Boston mưa suốt nên trăng khuất tận nơi nào sau những đám mây đen. Bỗng dưng nhớ chú tiểu ở chùa Thái, biết đâu giờ này chú đang thức dậy ngắm trăng như mình ở tuổi mười ba của tuổi thơ khó khăn và cô độc.
Nhắc chuyện khó khăn và cô độc chợt nhớ lại mấy năm trước, tôi lái xe đưa vợ lên thăm đỉnh Pikes Peak ở Colorado cao 14,115 feet (4,302 mét). Đường rất hẹp và khá nguy hiểm. Một bên là dốc núi cao và một bên là vực sâu. Con đường hẹp mà lại có hai chiều xe. Những chỗ cua rất dễ đụng nhau.
Bên dốc núi một đoàn cừu có sừng (bighorn sheep) đang nhìn xuống chúng tôi.
Nơi đoàn cừu đứng không một bóng cây xanh, không một bụi cỏ, không một con suối. Tôi thầm ước có thể dừng xe để ghi lại cảnh sống khắc nghiệt hiếm hoi này. Mùa hè nhưng ở độ cao trên ba ngàn mét nên trời rất lạnh. Tuyết rơi tối qua còn đọng lại những lớp dày dọc triền núi. Mấy ngày ở vùng núi, chúng tôi đã gặp các bạn cừu có sừng này rồi nhưng trên đỉnh Pikes Peak này, các bạn nổi bật giữa triền đá.
Khi lên tới đỉnh núi, chúng tôi dõi mắt nhìn xuống chân núi cố tìm đàn cừu nhưng không thấy. Chúng tôi cứ thắc mắc hoài, làm sao đàn cừu kia có thể sống được giữa một hoàn cảnh khắc nghiệt như thế. Chúng lấy gì ăn, lấy gì uống. Nhưng chúng tôi đoán sai, các bạn cừu vẫn sống và mỉm cười nhìn xuống chúng tôi.
Một lần đi tìm ảnh cây đa cũ ở chùa Viên Giác để kèm vào bài thơ Nhớ Cây Đa Chùa Viên Giác, tôi gặp bài viết của Chú Đồng ở chùa Viên Giác ngày xưa. Chú Đồng tả một “bữa tiệc” mà chú cho là rất thịnh soạn của chúng tôi hơn nửa thế kỷ trước.
Chuyện ăn uống không đáng để tâm nhưng đọc thấy dễ thương nên nhớ. Tất cả đều là kỷ niệm. Tôi không còn phân biệt hay so sánh nữa nhưng trên hành trình chúng ta đi qua, một giọt sương mai long lanh hay một nhánh cây khô cháy bên đường đều đáng nhớ.

Trong bài viết, Chú Đồng kể một “bữa tiệc sang trọng” của chúng tôi trong những ngày sóc vọng, tức rằm và mùng một, tại chùa như sau:
“Trong những ngày sóc vọng chùa làm đậu khuôn để phát hành. Chú Như Điển lo phần gánh nước và bòng đậu. Lúc ấy không có máy nước như bây giờ nên Chú Điển phải gánh nước ở các giếng gần chùa mới đủ nước cung ứng cho công việc. Các em học sinh như Nhơn [Trần Trung Đạo], Nhiêu [một học sinh khác cũng tá túc trong chùa] lo phần xay đậu với một cái cối bằng đá to.Người đời thường nói “Thợ rèn ăn dao lụt “ quả không sai. Tuy cả chúng [các chú, các điệu và học trò tạm trú trong chùa] làm đậu nhưng mấy khi được ăn một miếng đậu ngon. Đa phần đậu được đem đi bán để có tiền trang trải cho các khoản sinh hoạt của chùa. Các mảnh cắt rẻo còn lại thì nấu canh cho chúng ăn. Thỉnh thoảng các cô cũng như các anh Huynh Trưởng trong Ban Hướng Dẫn GĐPT Quảng Nam lấy xác đậu xào với rau răm rồi nướng bánh tráng xúc ăn. Đó là bữa tiệc ngon nhất của đại chúng thời ấy.”
Đó là Chú Đồng viết về những ngày rằm và mùng một, ngày thường còn đạm bạc hơn nhiều. Miếng đậu hủ vuông vắn cũng không có. Đậu hủ ngon để dành đem ra chợ bán. Chúng tôi chỉ được ăn những mảnh rơi rớt lại quanh chiếc nia tròn.
Bây giờ tôi cũng nhỏ con, ốm yếu nói chi năm 13 tuổi thiếu dinh dưỡng. Một mình xay đậu nành không nổi. Tôi và Nhiêu, một học trò khác nhỏ tuổi hơn nhưng mạnh khỏe hơn tôi, được phân công đứng hai bên cái cán dài để đẩy “cái cối bằng đá to” như Chú Đồng kể lại. Nhưng không phải đẩy một lần mà đẩy từ khuya cho tới sáng. Trên đường đến trường hai tay mỏi rụng. Bao nhiêu bài học thuộc tối qua chừng như quên hết.
Nhưng công việc của anh em tôi còn được xem là nhẹ. Công việc gánh nước tưới rau trong sân chùa và khu vườn ngoài cổng chùa của các anh Hùng Anh, anh Sáu v.v… nặng hơn nhiều.
Tôi không biết các chú và anh chị khác bây giờ ở đâu nhưng “Chú Điển” ngày nay là Hòa thượng Thích Như Điển, Phương trượng Tổ Đình Viên Giác Đức, Chánh Thư Ký của Hội Đồng Hoằng Pháp GHPGVNTN.
“Anh Hùng Anh” là Hòa Thượng Thích Giác Ánh rất được kính trọng của Tông Phái Khất Sĩ. Thỉnh thoảng tôi vào youtube để nghe Hòa thượng Giác Ánh giảng. Giọng Quảng Nam chất phát của Sư chuyên chở những lời dạy của đức Bổn Sư. Hòa thượng đã viên tịch vào tháng 6, 2023.
Dù sao, khó khăn đã nuôi chúng tôi lớn. Những ngày còn ở trong chùa, chúng tôi không thể hình dung ra chúng tôi hôm nay, nhưng một điều chúng tôi biết dù môi trường nào, hoàn cảnh nào chúng tôi cũng sẽ cố gắng vượt qua để không phụ công ơn của thầy tổ.
Tuần trước ra thăm Quincy Quarries Reservation, tôi gặp nhiều cây phong mọc trên triền đá. Mùa thu, lá phong vàng nổi bật bên những kẽ đá xám đen. Tôi thấy thương và cảm thông với hoàn cảnh sống đầy khắc nghiệt của chúng. Nhưng với chúng đó là chuyện bình thường. Mặt trời sẽ mọc, tuyết sẽ tan, bước chân đã quen đi trên đá nên đá cũng mềm theo.
Tôi ngồi trên tảng đá nhờ vợ chụp bức hình để nhớ một thời lớn lên từ đá.
Trần Trung Đạo
