Bhikkhu Bodhi | Thanh Hòa dịch Việt: Những Thách Thức Của Tăng Già Trong Thế Kỷ XXI | The Challenge to the Sangha in the 21st Century

Nhiệm vụ của Tăng là phải nói lên tiếng nói của lương tâm Phật giáo cho thế giới nhận ra. Nghĩa là, Tăng hoặc ít nhất là những vị có danh tiếng trong Tăng, hãy nêu cao những giá trị đạo đức Phật giáo trong việc giải quyết những vấn đề to tát đang đối diện với nhân loại ngày hôm nay.

 

Tăng đoàn Phật giáo đã trải qua hơn 2.500 năm, còn dài hơn cả đế quốc La Mã, và dài hơn bất cứ triều đại nào ở Trung Quốc. Nhưng hơn tất cả, Tăng đoàn Phật giáo đã tồn tại không bằng vũ khí, không dựa vào một nguồn tài lực kinh tế dồi dào, cũng không có quân đội, mà đơn thuần chỉ bằng sức mạnh của trí tuệ và đức hạnh.

Tăng đoàn là đại diện của Đức Phật tồn tại ở thế gian. Đó là giáo đoàn gồm những Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, những vị xuất gia truyền thừa qua nhiều thế hệ, sống theo tinh thần giới luật của Phật chế định. Hơn 2.500 năm qua, với sự truyền thừa, Tăng đoàn đã duy trì và phát triển giáo pháp của Đức Phật, khiến cho gia tài Chánh Pháp của Ngài không bị mai một. Thế nhưng, Tăng đoàn của Đức Phật sẽ tiếp tục tồn tại được bao lâu?

Sự tồn tại của Tam Bảo phụ thuộc vào sự tồn tại của Tăng, bởi vì Tăng tượng trưng cho Tam Bảo, là hình ảnh thu gọn của Tam Bảo. Tăng cũng chính là hiện thân của những vị Thánh giả, những người đã giác ngộ chân lý tối thượng siêu xuất thế gian.

Tuy nhiên, không thể nói trước được rằng liệu Tăng sẽ còn tiếp tục tồn tại hoặc tiếp tục có những đóng góp quan trọng và cần thiết cho nhân loại nữa hay không. Đây thực sự là vấn đề quan trọng mà nó phụ thuộc vào chính những thành viên của Tăng, vào mỗi thế hệ tiếp nối của những người xuất gia, bởi vì tương lai của Phật giáo chính là tương lai của Tăng hay ngược lại, tương lai của Tăng chính là tương lai của Phật giáo.

Như chúng ta đã biết, Tăng luôn luôn tồn tại trong mối tương quan mật thiết với giới Phật tử cư sĩ. Mối quan hệ giữa hai bên này là mối quan hệ hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau.

Trong truyền thống Phật giáo, người tại gia cung cấp các thứ nhu yếu như áo quần, thực phẩm, chỗ ở, thuốc men và những vật dụng khác cho Tăng; trong khi đó, Tăng mang đến cho người tại gia những lời chỉ dạy và hình ảnh giải thoát nhờ đã sống đúng theo giáo pháp của Đức Phật. Để Tăng tiếp tục tồn tại, mối quan hệ này cần phải được giữ lại dưới những hình thức nào đó, nhưng xã hội đã thay đổi nhiều và sự thay đổi đó có thể sẽ đặt mối quan hệ này trên một vị thế mới.

Nhân tố trọng yếu nhất đang tác động đến mối quan hệ Tăng – Tục là sự chuyển đổi, trước tiên, từ một trật tự xã hội truyền thống sang một trật tự xã hội hiện đại, và sau đó là sang một trật tự xã hội công nghệ. Ngày nay dấu hiệu dễ nhận ra của sự thay đổi này là sự thay đổi từ việc chú trọng vào các sản phẩm công nghiệp sang việc thu thập và phân bố thông tin. Sự chuyển giao này đã xảy ra xuyên suốt phương Tây và trong tầng lớp xã hội tân tiến nhất trong tất cả các nước trên thế giới. Đôi lúc, sự thay đổi này được mô tả bởi câu nói: “…chúng ta đang đi từ thời đại công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền văn minh dựa trên sản xuất sang nền văn minh dựa trên tri thức”.

Sự chuyển giao sang một xã hội “thông tin nhạy bén” sẽ làm biến đổi bản chất của mối quan hệ “Tăng-Tục” một cách đáng kể, và điều này sẽ thách thức Tăng phải đưa ra những giải pháp mới để giữ được sự thích hợp của Phật giáo. Ở đây, chúng ta không phải là những nhà tiên tri, và chúng ta không thể nói trước về tương lai một cách chi tiết được, nhưng căn cứ trên những xu hướng hiện tại, chúng ta thử phác họa nên những thách thức quan trọng đang đối mặt với Tăng đoàn như chúng ta nhận thấy.

Vai trò của việc nâng cao học vấn

Trong thời đại thông tin, tầng lớp có trình độ đại học chiếm tỷ lệ cao. Mọi người tiếp cận được nhiều kho tàng tri thức và thông tin hơn rất nhiều so với trong quá khứ, và sự hiểu biết về những vấn đề thế gian, và thậm chí cả Phật giáo, tinh tế hơn những thời kỳ trước rất nhiều. Họ kỳ vọng giáo pháp của Đức Phật phải phù hợp với những tiêu chuẩn mà họ đã học được từ các đại học, và sẽ không dễ dàng tiếp nhận giáo lý được truyền đạt bởi những vị đạo sư dựa vào lòng kính mộ và niềm tin không trắc vấn như trong truyền thống thời xưa cũ.

Người ta được đào tạo phải tra vấn và tìm tòi, và họ sẽ áp dụng phương pháp đó mỗi khi họ nghiên cứu Phật giáo. Vì thế Tăng ni phải sẵn sàng để trả lời rất nhiều câu hỏi. Quý vị Tăng ni không thể trông chờ đón nhận sự kính trọng khép nép từ phía người thế gian; mà họ phải nhận sự kính trọng qua việc giải thích giáo pháp rõ ràng, chính xác và thuyết phục.

Bản thân chư Tăng ni sẽ cần phải được đào tạo nâng cao, chính yếu là trong Phật giáo nhưng phải có thêm những mảng liên quan trực tiếp đến giáo lý, chẳng hạn như triết học và tâm lý học hiện đại, và còn nhiều lĩnh vực chính đáng khác nữa. Làm thế nào để kết hợp hài hòa thế học vào trong môi trường xuất thế là một vấn đề khó khăn; giải pháp phải được đưa ra từ phía những nhà giáo dục Tăng ni.  

Vai trò của sách báo

Liên quan mật thiết đến điều kiện nâng cao học vấn giữa những người thế gian là vai trò của sách báo. Việc sử dụng chữ viết đã làm thay đổi Phật giáo từ khoảng thế kỷ II trước Tây lịch; và cũng tương tự như thế, báo chí và việc xuất bản mang tính thương mại đã bắt đầu làm thay đổi Phật giáo từ khoảng nửa sau thế kỷ XX.

Ngày nay có vô số sách báo Anh ngữ về tất cả mọi lĩnh vực của Phật giáo, cả phổ thông lẫn chuyên môn, và rất nhiều sách bằng các ngôn ngữ khác. Như thế, bất kỳ ai chịu khó nghiên cứu giáo pháp đều có thể thu được một sự hiểu biết sâu rộng về Phật giáo thông qua sách vở.

Máy vi tính cũng đã cách mạng hóa ngành Phật học một cách sâu xa. Một người cần mẫn có thể dùng chiếc máy tính nhỏ bé của mình để cất chứa một thư viện Phật học đầy đủ, bao gồm bộ Tam Tạng giáo điển (Tripitaka). Thông qua mạng lưới internet, họ có thể tiếp nhận vô số nguồn tài liệu về Phật giáo và tham gia nhiều diễn đàn thảo luận một cách thiết thực về mọi đề tài liên quan đến đạo Phật.

Kiến thức về giáo lý thuộc phạm vi sách vở không còn là đặc quyền của những người xuất gia, và kho tàng kiến thức kinh luận Phật giáo cũng không còn phụ thuộc vào chùa chiền như nó đã từng như vậy trong một nền văn hóa Phật giáo truyền thống. Các trường đại học cũng thường đưa ra các đề tài nghiên cứu Phật học, và ngày nay có nhiều học giả tại gia nổi tiếng đang nghiên cứu những lĩnh vực chuyên môn của Phật học.

Điều này dựng lên vấn nạn rằng những người xuất gia, sẽ phải làm gì một khi kiến thức của chúng ta không sánh bằng với những học giả Phật học tại gia? Tất nhiên Tăng sĩ cần phải nỗ lực để có một trình độ chuyên môn uyên bác về Phật học, từ càng nhiều nguồn tài liệu càng tốt, và chúng ta sẵn sàng học hỏi từ phía những học giả tại gia những khi cần thiết.

Hơn nữa, những gì đời sống tự viện Phật giáo mang lại là một cơ hội để đem Phật giáo vào trong đời sống; nó tạo cơ hội kết hợp việc học tập kinh điển với việc áp dụng sống động những nguyên tắc trong cuộc sống dựa trên đức tin, cống hiến và bổn phận đối với ngôi Tam Bảo. Chúng ta phải kết hợp khôn khéo, uyển chuyển kiến thức với thực hành, sự hiểu biết bằng tri thức với đức tin và bổn phận. Chúng ta không thể chỉ tìm kiếm kiến thức mà không có thực hành, cũng không thể thực hành một cách mù mờ mà không có sự soi sáng của hiểu biết.

Vai trò của việc đào tạo tâm linh

Giáo pháp của đạo Phật thuyết phục mọi người không chỉ bằng vào khía cạnh trí tuệ của nó, cũng không phải bằng luân lý thực hành, mà đặc biệt bằng hệ thống tu tập tâm linh của nó. Đây chính là điểm khiến cho Phật giáo khác biệt cơ bản với tất cả các hệ thống tôn giáo khác: nó nhấn mạnh trên vai trò trung tâm của cái tâm trong việc quyết định hạnh phúc hay khổ đau, và đưa ra các phương pháp thực hành (pháp môn) để rèn luyện cái tâm ấy.

Vì thế, có một pháp môn rất quan trọng đối với nhiều người là sự thực hành thiền định. Đây là một “cánh cửa” cho những ai đến từ môi trường phi Phật giáo, đặc biệt như nó đã từng xảy ra ở phương Tây. Vả lại, thiền định cũng là một pháp môn cho những Phật tử truyền thống mà họ làm việc trong các lĩnh vực khoa học và có đầu óc hoài nghi, ưa tìm tòi.

Chúng ta không nghĩ chỉ có thực tập thiền định là đủ, và trong phương diện này, một số không đồng ý với những “Thiền sư” ở phương Tây – những người muốn trích xuất thiền định từ Phật giáo lại phản đối giáo lý Phật giáo và đức tin tôn giáo. Tôi nghĩ một phương thức cân bằng là rất cần thiết, đó là thế chân ba: đức tin – học hỏi Phật pháp – thực tập thiền định. Đức tin làm thay đổi những trạng thái tình cảm không tốt, học giáo lý để có được tri kiến đúng đắn, và thực tập thiền định mang lại sự bình an và trí tuệ. Ngày nay nhiều người ban đầu đến với pháp của Phật thông qua tu thiền. Một khi họ thu hoạch được những ích lợi cụ thể nhờ vào thiền định thì họ sẽ khởi lên sự thích thú và quan tâm đối với pháp, và khi đó từ từ họ sẽ đi đến thâm hiểu giáo lý, nghiên cứu kinh điển, và rồi sẽ có đức tin, lòng mộ đạo, và thậm chí theo đuổi cả đời sống xuất gia.

Nếp sống phụng sự của Tăng

Tăng đoàn nỗ lực bảo tồn và tôn trọng những truyền thống lâu năm, sống không để những nhu yếu vật chất trở thành gánh nặng. Theo cách đó, Tăng khuyến khích những người khác hướng đến một lối sống cần kiệm, kính trọng những gì lâu đời, tôn trọng môi trường tự nhiên. Trong thế giới hiện đại, bạo động đang nổ ra giữa những nhóm người khác sắc tộc, khác tôn giáo, những người này tin rằng họ có thể giải quyết được những khó khăn của họ bằng biện pháp vũ lực.

Tăng được tổ chức trên nguyên tắc bất bạo động, với niềm tin rằng nhẫn nại, thương thảo, và thỏa hiệp là hết sức cần thiết cho sự hòa hợp giữa con người với nhau. Theo ý nghĩa ấy, Tăng khuyến cáo con người phải giải quyết những khó khăn của họ thông qua sự hiểu biết, tha thứ và lòng thương yêu lẫn nhau.

Bằng việc nêu cao giáo pháp siêu xuất thế gian, Tăng đoàn Phật giáo kêu gọi tất cả mọi người nỗ lực lắng lại và tìm lấy một vị trí thư thái ở trong thế giới; yêu cầu mọi người phải hiểu được rằng trí tuệ siêu việt, nền tự do tối hậu của chúng ta, vượt lên trên tất cả mọi phân chia của thế giới. 

Tiếng nói của lương tâm

Điều này khiến chúng ta nhắc đến một thách thức lớn khác đang đối mặt với Tăng đoàn trong thế giới ngày hôm nay. Ngày nay, những vấn đề rộng lớn và kinh hoàng đang lấy đi mạng sống của hàng triệu người và đe dọa đến vô số người khác. Tác giả bài viết này muốn nói đến những cuộc xung đột sắc tộc đang hoành hành và các cuộc chiến tranh hủy diệt đang lập nên những danh sách chết dài lê thê giữa những người dân lương thiện, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em.

Chúng ta nghĩ đến những chính phủ áp bức bắt giam người dân mà không có bất kỳ lý do chính đáng nào, tra khảo và đánh đập họ, và thậm chí gây căng thẳng liên miên tới những người dân tự do.

Nghĩ đến khoảng cách giữa người giàu và kẻ nghèo, giữa những quốc gia hùng cường và những quốc gia nghèo đói. Nghĩ đến những cơn đói khát đang lấy đi hàng triệu sinh mạng người dân nghèo trên thế giới, đó là những căn bệnh mà có thể loại trừ dễ dàng với giá tiền hết sức khiêm tốn. Nghĩ đến sự đọa lạc của hàng triệu cô gái bị ép buộc phải hành nghề mại dâm, thường là bởi gia đình của chính họ do sự nghèo túng. Nghĩ đến hàng trăm triệu đô la phung phí mỗi năm, khắp nơi trên thế giới, cho những vũ khí có khả năng hủy diệt kinh khủng trong khi có lẽ khoảng một nửa dân số trên thế giới kiếm vừa đủ lượng thức ăn dinh dưỡng để chống đỡ qua mỗi ngày. Và cuối cùng, nghĩ đến việc chúng ta đang làm hại môi trường sống – không khí, nguồn nước, đất đai, thực phẩm – một cách thiếu thận trọng mà không hề quan tâm đến những thế hệ tương lai.

Theo người viết, nhiệm vụ của Tăng là phải nói lên tiếng nói của lương tâm Phật giáo cho thế giới nhận ra. Nghĩa là, Tăng hoặc ít nhất là những vị có danh tiếng trong Tăng, hãy nêu cao những giá trị đạo đức Phật giáo trong việc giải quyết những vấn đề to tát đang đối diện với nhân loại ngày hôm nay.

The Challenge to the Sangha
in the 21st Century

Ven. Bhikkhu Bodhi, Speech Lanka Daily News, July 19, 2006

We must become the voice of great compassion for suffering humanity, for those billions of people voiceless and helpless against the cruel, powerful forces that are victimizing so many human lives, and so many other forms of life, all over this planet. We must speak the truth before it is too late, before human greed, hatred, and delusion destroy all life on earth. Without being swept away by the passions of partisan politics, we must challenge injustice with justice, falsity with truth, cruelty with compassion, and ignorance with understanding. This may well turn out to be the greatest challenge facing the Sangha in the twenty-first century.

 

The Sangha — the order of fully ordained monks and nuns — is the visible representation of the Buddha in the world; for twenty-five centuries, it has sustained the continuity of the Dharma among humankind; by its procedures of ordination and transmission it ensures that the Buddha’s legacy remains alive. The presence of the Triple Gem thus depends upon the Sangha, which symbolizes the Third Gem, the ariyan Sangha or community of noble sages who have realized the ultimate, world-transcending truth. The Sangha has survived for some 2500 years: that’s longer than the Roman Empire, longer than all the dynasties of the Chinese emperors, longer than the British Empire. And it has survived without weapons, without financial resources, without armies, merely through the power of wisdom and virtue. However, there is no guarantee that it will continue to survive or that it will continue to make vital and important contributions to human life. This is a task that depends on the members of the Sangha themselves, on each new generation of monks and nuns, and this is an extremely important task, because the future of Buddhism depends on the future of the Sangha.

As we know, the Sangha has always existed in close interaction with the Buddhist lay community. The relationship between the two is one of interdependence and collaboration. In traditional Buddhism, the laity provides the members of the Sangha with their material requisites — robes, food, dwellings, medicines, and other material supports — while the Sangha provides the lay community with teachings and with examples of those who lead lives fully dedicated to the Dharma. For the Sangha to continue, this relationship must be maintained in some form, but the changes taking place in society may well place this relationship on a new footing.

The most weighty factor affecting the Sangha-laity relationship has been the transition, first, from a traditional social order to a modern social order, and then to a technological social order. Now the distinctive mark of this change is the shift from an emphasis on industrial production to the acquisition and distribution of information. This shift has already taken place throughout the West and in the most advanced social strata in all countries around the world. It is sometimes characterized by saying that we are moving from the Industrial Era to the Information Era, from a production-based civilization to a knowledge-based civilization. The transition to an “information-intensive” society will alter the nature of the Sangha-laity relationship in radical ways, and these will challenge the Sangha to come forth with novel solutions to preserve the relevance of the Dharma. I make no claim to be a prophet, and I can’t foretell the future in detail, but judging from present trends, I will try to sketch some of the more important challenges facing the Sangha as I see them.

1. The role of higher education. In the Information Era, a high percentage of a country’s population has acquired a university education. People have access to much greater stores of knowledge and information than they ever had in the past, and their understanding of mundane realities, and even of Buddhism, is much more sophisticated than in previous epochs. They will expect the Dharma to measure up to the standards they have acquired through their academic training and won’t simply accept the teachings presented by monastic teachers out of reverence and unquestioning trust in an age-old tradition. They have been trained to question and inquire, and they will apply the same approach when they come to the study of Buddhism. Hence the monks and nuns have to be ready to answer questions. They can’t expect to receive humble deference from the laity; they have to earn respect by clearly explaining the Dharma, and by explaining it accurately and convincingly. The monks and nuns themselves will need to have received higher education, primarily in Buddhism but also in subjects indirectly related to the Dharma, such as modern philosophy and psychology and other relevant areas. Exactly how to integrate such mundane knowledge into a monastic curriculum is a difficult issue; the solution would have to be worked out by those responsible for monastic education.

2. The role of publishing. Closely related to the opportunities for higher education among the laity is the role of publishing. The use of writing transformed Buddhism sometime around the second century B.C.; and so beginning in the second half of the twentieth century, the printing press and commercial publication have transformed Buddhism. There are now hundreds of books available in English on all aspects of Buddhism, both popular and scholarly, and many books are available in other languages. Thus any diligent student of the Dharma can acquire an extensive knowledge of Buddhism based on books. The micro-computer has further revolutionized Buddhist Studies. Any diligent person with a notebook computer can store an entire Buddhist library, including several Tripitakas, on his or her hard disk.Through the internet they can access vast resources on Buddhism and engage in discussion groups on virtually every topic related to Buddhism. Thus book knowledge of the Dharma isn’t a special privilege of monks, and for a knowledge of Buddhist scriptures and commentaries one is no longer dependent on the monastery, as one would have been in a traditional Buddhist culture. Buddhist Studies is also offered as a subject in universities and there are many outstanding lay scholars who are doing research in highly specialized areas of Buddhist Studies.

For us, this raises the question what we as monks will have to offer. I would say that our task will not be to compete with lay Buddhist scholars. We should certainly seek to acquire scholarly knowledge of Buddhism, from as many reliable sources as possible, and we should learn from lay scholars when necessary. But what the Buddhist monastic life offers is an opportunity to put Buddhism into practice; it gives the opportunity to combine study of the texts with the living application of their principles in a life based on faith, devotion, and commitment to the Triple Gem. We have to unite scholarly knowledge with practice, intellectual understanding with faith and commitment. We cannot settle for mere knowledge without practice; nor can we have blind practice without clear intellectual understanding.

3. Shifting populations. With higher education, more and more people migrate from the countryside to the cities, and we thus see the cities expand, both outwards and upwards. Urban life brings increased stress and tension, so people will need the Dharma even more urgently than in the past, just as a sick man needs medicine more urgently than a healthy man. It is therefore essential that the Sangha can offer teachings that help people deal with the problems of everyday life, and deal with them in a clear, realistic way, based on realistic insights into human psychology and an understanding of the true facts of existence. But I also want to make it clear that we must not dilute or revise the Dharma to make it more “digestible” for people. We should adapt the Dharma to the dispositions and capacities for understanding of the people of today, emphasizing those aspects that resonate with their immediate experience. This will generate trust in those aspects of the Dharma that go beyond an ordinary person’s experience. Once this trust is generated, we should be ready to lead people to ever deeper levels of understanding.

4. The role of mental training. The Dharma will convince people not only by its intellectual appeal, not only by its practical ethics, but particularly by its system of mental cultivation. This is what distinguishes Buddhism from virtually all other religious systems:its emphasis on the central role of the mind in determining our happiness or suffering, andthe practical methods it offers for training the mind. So a very important “door of entrance”to the Dharma for many people is the practice of meditation. This is the special “door” for those who come from non-Buddhist backgrounds, as has been particularly the case in theWest. But meditation has also been a “door” for traditional Buddhists who approach theDharma from scientific backgrounds and bring along skeptical, inquisitive minds. I don’t think meditation alone is the answer, and in this respect I am critical of those teachers in the West who want to extract meditation from Buddhism, rejecting Buddhist doctrine and religious faith. I think a balanced approach is necessary: a triple balance between faith-and-devotion, the study of Buddhist teachings, and the practice of meditation. Faith transforms the emotions, study brings right view, and meditation brings tranquility and insight. Many people today are first attracted to the Dharma through meditation. Once they gain concrete benefits through meditation, their interest in the Dharma will be awakened and then they can be gradually led to an understanding of Buddhist doctrine, to the study of Buddhist texts, and then to faith, devotion, and even the monastic life.

5. The Sangha as offering challenges. I’ve spoken about some of the ways the Sangha should meet the challenge of the new century. But one additional point I want to make is that the Sangha’s crucial mission is not only to meet challenges but to offer challenges. The Sangha must stand up to the modern age and present its own challenges. The modern world is being spun around in circles by the blind pursuit of sensual pleasures; the Sangha is a community of men and women who have devoted their lives to the renunciation of sensual pleasures. By their peaceful manner and inner happiness, the monks and nuns challenge others to see that the way to happiness lies in mastery of sensual desires, not in their indulgence. The modern world is based on the conviction that happiness is to be won by wealth and power; the Sangha is founded on the conviction that happiness is to be won through simplicity, voluntary poverty, and inner development. In this way, monks and nuns challenge others to see that happiness lies in simplifying their lives, in reducing their craving for wealth and power; they present them with the powerful challenge of turning inwards to find true happiness and peace. The modern world seeks endlessly for satisfaction in technological innovations, always assuming that new things are better things. The Sangha seeks to preserve and honor ancient traditions, and to live without being encumbered by an excessive number of conveniences. In this way, the Sangha challenges others to adopt a frugal lifestyle, to respect what is ancient, to honor and revere the natural environment. In the modern world violence is exploding between people of different ethnic and religious groups, who are convinced they can solve their problems by the use of force. The Sangha is based on the principle of non-violence,on the conviction that patience, discussion, and compromise is essential to harmony between human beings. Thus the Sangha challenges people to solve their problems through mutual understanding, tolerance, and loving-kindness. By upholding the world-transcending Dharma, the Sangha challenges all our attempts to settle down and find a comfortable place in the world; it challenges people to understand that the supreme wisdom, our ultimate freedom, lies beyond the boundaries of the world.

6. A voice of conscience. This leads me to speak about one other major challenge facing the Sangha in today’s world. Today vast, terrible problems are crushing the lives of millions of people and threatening untold harm to countless others. I have in mind such problems as raging ethnic conflicts and destructive wars that take dreadful death tolls among innocent civilians, including women and children. I think of oppressive governments that imprison their citizens without just cause, torture and torment them, and hold even the free citizens in a constant state of fear. I think of the gap between the rich and the poor, and between the rich nations and the poor nations. I think of the ravenous illnesses that claim millions of lives among poor people around the world, illnesses that could be easily eliminated at minimal costs. I think of the degradation faced by millions of women forced into lives of prostitution, often by their own families, on account of their poverty. I think of the hundreds of billions of dollars squandered each year, all around the world, on weapons of enormously destructive power, while perhaps half the people in the world barely obtain enough nutritious food to sustain them each day. And finally I think of the reckless ways in which we are degrading our environment — our air, our water, our soil, our food — without any concern for future generations. In my view, it is a task for the Sangha to serve as the voice of Buddhist conscience in the world. That is, the Sangha — at least its most prominent members — should be capable of giving expression to Buddhist ethical values in dealing with these vast, overwhelming problems that confront humanity today.

We cannot just enjoy our good fortune in being able to live the monastic life in comfort. We must become the voice of great compassion for suffering humanity, for those billions of people voiceless and helpless against the cruel, powerful forces that are victimizing so many human lives, and so many other forms of life, all over this planet. We must speak the truth before it is too late, before human greed, hatred, and delusion destroy all life on earth. Without being swept away by the passions of partisan politics, we must challenge injustice with justice, falsity with truth, cruelty with compassion, and ignorance with understanding. This may well turn out to be the greatest challenge facing the Sangha in the twenty-first century.

Leave a Reply