Thích Tịnh Từ: Học Phật và Nuôi Dưỡng Tín Tâm (2003)


Thượng tọa THÍCH TỊNH TỪ, Viện trưởng Tu viện Kim SơnViện trưởng Tu viện Kim Sơn

Ý NIỆM HỌC PHẬT

Học Phật không phải là học lý thuyết của một bộ môn tư tưởng, cũng không phải cố gắng hoàn tất những pho giáo lý được biện giải bởi những nhà trí thức đa văn và có tài diễn đạt, cũng không phải như những pháp sư thông làu các tạng kinh, luận và giới luật. Học Phật ta có thể tạm thí dụ như học ngành bác sĩ chuyên khoa, chữa trị bệnh tật có hiệu lực và cứu sống được nhiều người. Học Phật mà không chú trọng đến việc thực hành theo lời Phật dạy để chuyển hóa phiền não, khổ đau thì chúng ta đã bị rơi vào tình trạng của người học Phật để khoe khoang, biện bác và tự hào trong mớ kiến thức Phật học. Người học Phật như vậy, dù có thông suốt ba tạng kinh điển cũng chỉ uổng phí một đời người, không có lợi ích gì trong mục đích giải thoát khổ đau, không hướng tới sự giác ngộ bản thân, nói chi là hoàn thiện cho kẻ khác. Học Phật như vậy không khác nào một sinh viên học ngành y khoa, trị liệu bệnh tật và săn sóc sức khỏe cho con bệnh mà không ra trường, không có kinh nghiệm, không thành công trong nghề nghiệp.

Mục đích học Phật là để sáng tỏ chân lý và nắm rõ pháp môn để thực hành, giác ngộ chân lý, vượt thoát khổ đau. Giác ngộ chân lý nào? Chân lý về sự khổ, nguyên nhân sự khổ, trạng thái thoát khổ và con đường thoát khổ.

Thông thường ta thấy khổ, nhưng không thấy đích thực nguyên nhân tạo ra nổi khổ, nên cứ lấy nhân khổ để xây nên sự sống. Ví như sát hại, hận thù, gây chiến tranh là mần nhân của đau khổ, song khi ta thỏa mãn được ít nhiều nhu yếu ấy, ta cho là vui, là thành công, là chiến thắng. Trong cái vui, thành công và chiến thắng ấy hóa ra là một động cơ tàn hại ta và hạnh phúc của nhiều người. Học Phật, trước hết là để hiểu rõ tường tận về lý nhân quả và biết thay đổi nhân quả để niềm vui, hạnh phúc được nuôi dưỡng, phát triển. Hạnh phúc, niềm vui có mặt là do ta không tạo ra suy nghĩ, lời nói và hành động xấu ác. Khi hiểu rõ giáo lý nhân quả rồi, ta cũng sẽ thông suốt về giáo lý duyên sinh:

Cái này có nên cái kia có
Cái này không nên cái kia không
Cái này sinh nên cái kia sinh
Cái này diệt nên cái kia diệt.

Thông suốt về giáo lý nhân quả và duyên sinh, ta cũng sẽ nhận thức thấu đáo về giáo lý vô thường, khổ, không và vô ngã.

Ta biết rằng, vô thường ngoài cái nghĩa thay đổi, chuyển biến, hoại diệt, không tồn tại lâu dài, vĩnh viễn với thời gian, nhưng cũng bằng vào hiện tượng vô thường mà ta có thể chuyển đổi được nhân quả, nghiệp xấu, hóa giải được những khổ đau và thành tựu được phẩm chất từ bi, trí tuệ hoàn hảo của một đức Phật. Nguyên lý vô ngã có liên hệ mật thiết với giáo lý duyên sinh. Tất các các pháp từ sắc tướng đến hiện tượng của tâm lý đều rỗng suốt, vắng lặng. Mỗi pháp nương gá vào nhau để sinh hóa và sinh tồn, mà không đứng riêng rẽ, biệt lập. hữ Không trong tư tưởng Bát nhã nó chứa đựng và bao hàm cả tâm, cảnh, thế giới, chủ thể, khách thể và đối tượng, nhưng nó tuyệt nhiên bình đẳng và không là gì cả trong cá thể biệt lập. Bằng vào tự tánh không, tương duyên và sự chuyển biến thuần thục, tiến hóa của nhân quả mà khổ đau rơi rụng, trạng thái Niết bàn, an lạc có mặt trong sự sống, trong lòng thực tại.

Lời dạy của đức Phật nhằm đối trị sự mê chấp và vướng mắc danh, sắc, bản ngã của chúng sanh. Vì vậy, giáo pháp không phải là định pháp, mà giáo pháp là những nguyên tắc soi sáng linh động và mầu nhiệm. Một lời dạy của đức Phật hàm chứa vô lượng nghĩa, vô lượng pháp môn thực hành. Khi đức Phật nói vui là đối với khổ mà nói, khi nói có là đối với không mà nói, khi nói tới Niết bàn là đối với sinh tử mà nói. Lời dạy của đức Phật là pháp môn phương tiện, chứ không phải là chân lý. Vì vậy, học Phật là học pháp môn để tu tập, để chuyển hóa tâm thức, lời nói và hành động trên chiều hướng thượng. Học Phật là học khoa thực nghiệm, nhằm thiết lập sự bình an, liên hệ giữa cá nhân và cá nhân, giữa tập thể và tập thể. Học Phật, do đó, không phải là để thâu thập kiến thức, lý thuyết và kinh văn, mà học Phật là học nguyên tắc khai mở tuệ giác và khả năng thương yêu đang ngủ chìm trong tiềm thức, trong nội tâm sâu kín của mỗi người. Đức Phật có đủ những đức tánh cao đẹp, ta cũng có đủ, không thiếu và không khác. Tánh của đức Phật có năng lực từ bi rộng lớn, có khả năng hóa giải những tâm lý sân hận, oán thù và tranh chấp. Ta cũng có đủ các đức tánh đó. Tánh của đức Phật hàm chứa trí tuệ siêu việt, có khả năng phá trừ những tâm lý tham chấp, mê lầm và soi thấu tận gốc rễ hạnh phúc, khổ đau. Ta cũng có đủ các đức tánh đó. Đức Phật có khả năng nhẫn nại, kiên trì để tu tập, dứt trừ khổ đau, chứng quả cảnh giới Niết bàn tịch diệt, không còn vướng mắc trong nghiệp báo luân hồi. Ta cũng có đủ khả năng để lập nguyện tu tập, đoạn trừ đau khổ.

Một cá nhân, một gia đình, một tập thể được học Phật là cá nhân, gia đình và tập thể đó có niềm vui lớn, có sự hòa hợp lớn, có sự tương kính với nhau hết mực. Đó là kết quả bước đầu của người học Phật. Phẩm chất cao đẹp hơn của người học Phật là thành tựu giới đức thanh tịnh, thành tựu được định lực kiên cố và thành tựu được trí tuệ viên mãn. Nhìn vào cách sống, biểu tướng qua lời nói, và sự hành xử của một người mà ta có thể biết được người ấy có phẩm chất học Phật hay thiếu phẩm chất học Phật. Một người học Phật thế nào, tu tập thế nào mà không chuyển hóa được tri giác sai lầm, không thay đổi được tập khí giận hờn, hấp tấp, nóng nảy, ganh ghét, ích kỷ, đố kỵ, tham chấp, háo thắng, tị hiềm, nhỏ mọn, đầy phiền não, hệ lụy và đau khổ thì việc học Phật và thực tập của ta đã sai lầm rồi, ta hãy trầm tĩnh, quán chiếu trở lại để tu chỉnh việc học Phật và công phu hành trì của ta.

Học Phật để quán chiếu
Tỏ ngộ lý chân như
Chuyển hóa nhân đau khổ
Tới lui cõi Niết bàn
Ba nghiệp hằng thanh tịnh
Giới, định, huệ viên dung
Vượt qua bờ sanh tử
Rộng độ khắp muôn loài.

NIỀM TIN VÀ TUỆ GIÁC

Kho tàng văn hóa và thông điệp từ bi của đức Phật là một cống hiến to lớn cho nhân loại và đặc biệt là cho các quốc gia tiến bộ, văn minh cơ khí, vật chất trên thế giới. Một số các xã hội Tây phương, mà đặc trưng là đất nước và chánh sách Hoa Kỳ, đạo Phật có vai trò soi sáng, dẫn đạo hướng đi cho con người và xã hội này, hướng đi tìm lại giá trị nhân bản, hòa bình và an lạc cho con dân, cho nhân loại toàn cầu. Người Phật tử, người cư sĩ Phật giáo trong xã hội và thời đại phải sống như thế nào, tu tập như thế nào, hành xử như thế nào để có năng lực từ bi, trí tuệ, đại hùng và đại nguyện hoằng dương Phật pháp?

1. Thứ nhất, đối với bản thân:

Người Phật tử cư sĩ khi thấy chiến tranh, nghe chiến tranh, bình luận chiến tranh, và than thở về sự tàn bạo, tội ác của chiến tranh, chưa đủ, người Phật tử cư sĩ phải tham gia vào sự nghiệp tái lập hòa bình, và giải giới chiến tranh. Tham gia như thế nào vào sự nghiệp tái lập hòa bình và giải giới chiến tranh?

(1) Ăn uống không điều độ, không theo phép dinh dưỡng để thân, tâm lành mạnh là ta đang trực tiếp, gián tiếp tham dự những tác hại của chiến tranh. Nguyên nhân sâu xa của sự tàn sát, hoại diệt sinh mệnh, thiêu hủy mầm sống là bắt nguồn từ việc ăn và uống của mỗi cá nhân. Người Phật tử cư sĩ phát nguyện giữ giới không sát sanh, giảm thiểu tối đa việc ăn thịt, uống rượu là sự thực tập, là nguyên tắc quán chiếu sâu sắc nhất trong sự nghiệp tái lập hòa bình, giải giới chiến tranh.

(2) Chơi bài bạc, đánh cá, làm nghề không lương thiện, lợi dụng công sức và làm giàu trên niềm đau, nỗi khổ của kẻ khác là ta đang trực tiếp, gián tiếp tham dự những tác hại của chiến tranh. Nguyên nhân sâu xa của sự tranh chấp, hoại diệt bản chất hòa bình và hạt giống yêu thương bắt nguồn từ trộm cướp, làm nghề bất lương của mỗi cá nhân. Người Phật tử cư sĩ phát nguyện giữ giới không trộm cướp, không tham quyền lợi trên sự tước đoạt danh vị, tài sản của kẻ khác, là sự thực tập, là nguyên tắc quán chiếu sâu sắc nhất trong sự nghiệp tái lập hòa bình, giải giới chiến tranh.

(3) Vợ chồng không tín cẩn, không trung thành, không kính yêu nhau, sinh tâm ngoại tình, dan díu sắc dục với người ngoài là ta đang trực tiếp, gián tiếp tham dự những tác hại của chiến tranh. Nguyên nhân sâu xa của sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình, kiện tụng, ly than, ly dị, gieo nỗi sợ hãi, cô dơn, bức xúc lên đầu con trẻ, là bắt nguồn từ hành động tà dâm, ngoại tình của vợ chồng và các bậc làm cha mẹ. Người Phật tử cư sĩ phát nguyện giữ giới không tà dâm, không ngoại tình là sự thực tập, là nguyên tắc quán chiếu sâu sắc nhất trong sự nghiệp tái lập hòa bình, giải giới chiến tranh.

(4) Nói lời gian dối, nói lời đường mật, nói lời chia rẻ, đấu tranh; nói lời vu khống, mạ lỵ, nói lời thô bạo và độc ác là ta đang trực tiếp, gián tiếp tham dự những tác hại của chiến tranh. Nguyên nhân sâu xa của sự chia rẻ, thiếu tình kết hợp giữa người thân, trong doàn thể là bắt nguồn từ sự không thành thật, bôi bác, tranh chấp hơn thua bằng bút chiến, khẩu chiến. Người Phật tử cư sĩ phát nguyện giữ giới không nói lời gian dối, không nói lời gạt gẫm, không nói lời đường mật, chụp mũ, thị phi, không nói lời độc ác, chia rẻ và đấu tranh là sự thực tập, là nguyên tắc quán chiếu sâu sắc nhất trong sự nghiệp tái lập hòa bình, giải giới chiến tranh.

Ngoài sự ngăn ngừa, chấm dứt nguyên nhân và mầm móng của chiến tranh, qua bốn yếu tố thực tập, quán chiếu căn bản: Không sát sanh, trộm cướp, không tà dâm và không gian dối, người Phật tử cư sĩ phải phát nguyện thực tập sự tỉnh thức liên tục, bền bỉ để phát triển hạt giống hiểu biết, yêu thương, thanh tịnh và hòa hợp nội thân trong nội thân. Ngày đầu nhập đạo, phát khởi tín tâm quy y Tam Bảo, người Phật tử cư sĩ tự phát nguyện: “Con xin nguyện trọn đời nơi tự tánh Phật bảo”. Tự tánh Phật bảo là tự quy y nơi tánh giác của mình để tìm hạnh phúc, chứ không phải đi tìm cầu một nơi nào khác. Quán chiếu nội thân trong nội thân là trong thân Phật có thân ta, trong thân ta có thân Phật. Nhận biết “tánh Phật và tánh chúng sanh vốn bình đẳng”, đó là niềm tin chân chánh, niềm tin có tuệ giác của người Phật tử cư sĩ.

Thọ giới và thực hành giới pháp là bước đầu công phu tu tập thiền quán của người Phật tử cư sĩ. Bước thứ hai, người Phât tử cư sĩ phải lưu ý thực tập pháp môn tham thiền trong đời sống để có cự tỉnh giác thường xuyên. Tham thiền để an tâm. Mỗi ngày ta ăn cơm để nuôi thân, thì mỗi ngày ta cũng phải thọ “thiền duyệt thực” để nuôi tâm. Thiền duyệt thực là tu thiền để nuôi lớn sự tỉnh thức và niềm vui tâm hồn. Tu tập thiền định như thế nào, ta sẽ đề cập ở một chủ đề khác. Ở đây, xin nói ra vài lợi ích và công năng của thiền định. Thiền định dẫn tới:

Tâm an ổn, vui tươi và trừ sự căng thẳng tinh thần.
Hóa giải tâm lý nóng giận, muộn phiền, trách móc và ganh tỵ.
Làm chủ được hơi thở và cảm giác.
Rủ bỏ lo âu, mặc ảm và cô đơn.
Biết cách cảm thông với chính mình.
Trừ được bệnh trầm cảm và bạo hành.
Dễ làm hòa với người thân, bằng hữu và những người chung quanh.
Có khả năng lắng nghe người khác.
Thường nói lời ái ngữ và xây dựng.
Không nói năng, hành động vụng dại để làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình.
Khéo làm hòa và khéo tái lập tình yêu thương với người thân.
Vững chãi và tự tin trong cuộc sống.
Từ bỏ được những thói quen nghiện ngập, bài bạc, sắc dục, ma túy.
Sống đơn giản, khiêm cung, cởi mở và từ ái.
Không gây đau khổ cho bản thân và tha nhân.
Phát triển được các thiện tâm sở dễ dàng.
Hoàn mãn được tâm từ bi, tâm hỷ xả rộng lớn.
Thành tựu được giới đức, oai nghi thanh tịnh.
Không đua đòi vật dục theo đám đông.
Thành tựu được chánh hạnh giải thoát.
Có dủ nghị lực, uy tín để dấn thân phụng sự.
Không khuất phục uy quyền, bạo lực.
Giác ngộ được lý tánh vô sanh.
Tâm Bồ đề bất thối chuyển.
Đem an lạc, hạnh phúc đến cho nhiều người và nhiều thế hệ.
Thành tựu được Phật thân và Phật quả.
Thuần thục đại nguyện độ sanh của Bồ tát.
Tự tại vào ra trong ba cõi và sáu nẻo luân hồi.

2. Thứ hai, đối với tha nhân:

Trong hai yếu tố thực tập giới pháp và thiền định của người Phật tử cư sĩ đã mang đủ phẩm chất về hai phương diện vừa tự lợi và lợi tha. Tự lợi và lợi tha là hành động tích cực để nuôi dưỡng, xây dựng hạnh phúc, bản thân, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều người trong xã hội và qua nhiều thế hệ.

Làm thế nào để xây dựng một gia đình có hạnh phúc và làm thế nào để xây dựng một tổ chức từ thiện xã hội lâu dài, có tầm cỡ để cứu tế những xã hội chậm tiến và nghèo đói? Đó là hai vấn đề rất cụ thể, thiết cần mà người Phật tử cư sĩ nên hết lòng lưu tâm thảo luận và thực hiện ngay bây giờ, không hứa hẹn ở tương lai.

(1) Xây Dựng Một Gia Đình Có Hạnh Phúc

Trong kinh Thương Yêu, đức Phật dạy: “Một gia đình muốn có an lạc, hạnh phúc ngoài việc mỗi người có học, có một nghề tốt và không làm tổn hại đến sinh mạng của kẻ khác. Mỗi người trong gia đình còn nên học hạnh thẳng thắng, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái, những kẻ ấy biết sống đơn giản, từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn và không đua đòi theo đám đông. Họ luôn luôn thực tập và nuôi dưỡng tâm niệm:

a. Nguyện cho mọi người và mọi loài được sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

b. Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng có ai coi nhẹ tánh mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

c. Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi người.
Người Phật tử cư sĩ vì nhiều lúc vì đời sống cơm áo, vì bổn phận đối với Phật pháp (chùa chiền), đoàn thể và quốc gia dân tộc, mà vô tình lãng quên việc nuôi dưỡng, tưới tẩm hạnh phúc cá nhân và gia đình. Đây là điều ta cần xét lại và quán chiếu để đừng rơi vào tình trạng “xây nhà trên bãi cát”. Vì hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình không có thì làm sao ta có thể phục vụ dân tộc, đạo pháp? Chúng ta khách quan đề ra một số câu hỏi và bản thân của mỗi Phật tử cư sĩ cần thẩm xét, chiêm nghiệm cho thật chu đáo những sinh hoạt tâm linh trong gia đình của mình:

a. Ta và người thân trong gia đình (chồng, vợ, các con và các cháu) đã chính thức làm lễ phát nguyện quy y Tam Bảo và hành trì năm giới căn bản của người Phật tử cư sĩ chưa?

b. Thầy bổn sư, thầy y chỉ, thầy giáo thọ của ta là những bậc Tăng, Ni nào? Ta thường thân cận để được hướng dẫn pháp môn tu tập hay không?

c. Trong ba pháp quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng, ta đã thực tập được những điều nào sau đây:

(a) Đã quay về nương tựa Phật, con đang thực tập pháp môn thiền định tinh cần để phát huy khả năng Phật tánh trong con mỗi ngày một thêm sáng đẹp.
(b) Đã quay về nương tựa Pháp, con đang thực tập giới luật tinh cần để phát huy khả năng từ bi trong con mỗi ngày thêm sâu sắc rộng lớn.
(c) Đã quay về nương tựa Tăng, con đang được Tăng thân bảo hộ, soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường tu tâm, dưỡng tánh.
d. Nếu có thực tập, ta đã thực tập được mấy mươi phần trăm?

e. Những người trong gia đình có cùng nhau ôn tập, tụng đọc năm giới và sám hối nửa tháng một lần hay không?

f. Những người trong gia đình có thực tập bữa cơm chay tịnh, chánh niệm với sự có mặt đông đủ người thân mỗi tuần hai lần vào dịp cuối tuần hay không?

g. Cha mẹ, chồng vợ và các con có thực tập thói quen lễ Phật, niệm Phật mỗi ngày năm phút đến mười lăm phút mỗi buổi sáng và buổi tối hay không?

h. Những người trong gia đình, mỗi khi khởi tâm buồn giận, nóng nảy, bức xúc có thực tập phép “Trở về hơi thở và theo dõi hơi thở trong chánh niệm” chưa, hay mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy tranh cãi?

i. Cha mẹ, chồng vợ và người thân trong gia đình có thực tập phép “hối lỗi” với nhau trước bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà và tổ tiên sau mỗi lần xảy ra chuyện bất hòa, khẩu chiến hay không?

j. Ta phát nguyện tham gia đều đặn với một trung tâm tu học, một tăng thân, một ngôi chùa để thảo luận và thực hành Phật pháp, ứng dụng trong đời sống hay không?

k. Con em của chúng ta có tham gia sinh hoạt với một gia đình, một đoàn thể có mục dích trau dồi đạo đức, tâm linh nào không?

l. Chúng ta và con cái thường giải trí các loại phim ảnh, sách báo nào? Có lành mạnh hay mang nhiều tính bạo động, khơi dậy tình dục, chiến tranh?

m. Chúng ta có thường nhau thảo luận việc sử dụng phim ảnh, sách báo, Tivi, E-mail, Internet, Website để đưa những yếu tố học hỏi, giải trí lành mạnh vào tâm thức mỗi người trong gia đình ta hay không?

n. Chúng ta có ý thức và thiết lập thời khóa mỗi tháng ít nhất là một lần để cha mẹ, vợ chồng, con cái thảo luận, duyệt xét với nhau về việc thực tập năm giới, nền tảng hạnh phúc của gia đình mình hay không?

(2) Xây Dựng Một Tổ Chức Từ Thiện: Người Phật tử cư sĩ nên lưu tâm xiển dương công đức từ thiện. Nơi xây dựng một tổ chức từ thiện thì quá lớn, nên ta có thể bắt đầu bằng cách thiết lập một nhóm từ thiện, để vừa khiêm tốn và vừa dễ thực hiện. Trong cộng đồng Phật tử Việt Nam ở Hoa Kỳ và hải ngoại đang có khá nhiều “Nhóm Từ Thiện” hướng về Việt Nam, giúp người mù, mổ mắt bị cườm và xây lại nhà cửa hư sập bởi thiên tai, cứu đói, bảo trợ người khuyết tật ở các làng phong cùi, các viện cô nhi; làm trường học dạy trẻ ở các vùng quê, mở các trạm y tế cho thuốc đến người bệnh; trùng tu và xây dựng lại những ngôi chùa bị chiến tranh tàn phá…

Vấn dề từ thiện, cứu tế gắn liền với giáo lý từ bi, vị tha của đạo Phật. Song ta biết rõ là khi làm từ thiện xã hội nó sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều với hoàn cảnh chánh trị, chinh biến của đất nước, nhưng không vì thế mà ta phó mặc, làm ngơ trước niềm đau, nỗi khổ của dân chúng đói nghèo, bệnh tật, thiên tai xay ra khắp nơi trên mặt đất. Kế thừa truyền thống “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” của đức Bồ tát Quán Thế Âm, ngày 14 tháng 4 năm 1966, một nữ tu sĩ Phật giáo ở Đài Loan, có pháp danh Chứng Nghiêm cùng năm học trò xuất gia và ba mươi bốn Phật tử cư sĩ phát nguyện trước Tam Bảo thành lập “Hội Công Đức Từ Tế”. Hội bắt đầu làm ra những đôi giày em bé để gây quỹ, kêu gọi bà con thiện tâm tiết kiệm năm xu (05) mỗi ngày, với ý chí tụ cây thành rừng, tụ cát thành núi đã xây dựng nên một sự nghiệp từ thiện xã hội thật to lớn ngày nay. Tính đến năm 2002, Hội đã tập họp trên hai mươi lăm ngàn ủy viên điều hành và hàng triệu người thiện tâm tham gia làm việc, đóng góp ngân quỹ để cứu khổ người nghèo và dân chúng lâm nạn khắp nhiều quốc gia trên thế giới.

Suốt ba mươi lăm năm dấn thân làm việc, nhà tu mảnh khảnh Thích nữ Chứng Nghiêm nay đã sáu mươi lăm tuổi vẫn vui tươi, mạnh khỏe, nói năng khiêm tốn, mạch lạc, thực tế, phóng khoáng như lúc mới bắt đầu vào đời làm công tác từ thiện năm ba mươi tuổi. Thống kê con số mới nhất của Hội Công Đức Từ Tế dưới sự lãnh đạo của bà mẹ Từ thiện Chứng Nghiêm từ ngày Rằm tháng tư âm lịch năm 2002, là Hội đã thâu nạp trên bốn triệu hội viên, tức hơn một phần trăm dân cư của quốc gia Đài Loan. Trong thời gian trên ba thập niên “xuống đường” và “dấn thân” làm hạnh Bồ tát, Ni sư Thích nữ Chứng Nghiêm đã biến đổi vai trò Phật giáo Thiền định, truy tầm nội tâm trở thành vai trò của đại hạnh và đại nguyện của Bồ tát cứu khổ tích cực giữa cõi đời trầm luân.

Người Phật tử cư sĩ Việt Nam đang cư trú và sinh hoạt tại Hoa Kỳ cùng khắp nơi tại hải ngoại cũng có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm, ý chí, đạo lực và tâm nguyện dân thân cứu tế, làm công tác từ thiện xã hội không thua bất cứ nhân sự của một Hội Từ Thiện nào của các tổ chức, đoàn thể và các tôn giáo. Quý thầy, quý sư cô trẻ Việt Nam đang tu học tại xã hội Tây phương hôm nay cũng có thể trở thành một hay nhiều Ni sư Chứng Nghiêm trong sứ mạng tập họp các giới Phật tử cư sĩ đóng góp công sức,tài lực, bàn tay trong phần vụ “Từ Thiện Cứu Tế” thực tiển cho trẻ con, quần chúng bất hạnh trên quê hương Việt Nam và các cơ sở nghèo đói.

(1) Xây dựng nhà nguyện, tập họp trẻ con và người nghèo trên các vùng nông thôn, sơn cước để truyền bá đức tin.

(2) Mở các bệnh xá chữa bệnh, cho thuốc người già, người bệnh và người tàn tật.

(3) Xây dựng trường học để dạy trẻ con biết đọc, biết viết và biết cám ơn người đã ban ơn.

(4) Bố thí thức ăn, áo mặc, quà kẹo, bánh trái để bảo dưỡng, an ủi, khích lệ việc học hành của con em.

(5) Phát tiền cho mỗi đầu người để sửa sang, xây dựng lại chỗ ở cho kẻ bần hàn và “cấy đức tin” vào tâm hồn họ.

(6) Mua lại điền thổ của nhà nghèo để xây nhà và bán rẻ lại cho dân vào đạo hoặc cải đạo.

(7) Dạy cho tuổi trẻ có nghề khâu may, thủ công nghệ, chằm nón, dóng giày, sửa máy móc, sử dụng các hệ thống điện toán.

(8) Cấp phát học bổng để các em được vào các chương trình giáo dục và học vấn cao cấp.

(9) Cấp phát học bổng và vận dụng phương cách để đưa sinh viên đi học nước ngoài.

(10) Đào tạo nhân sự có khả năng chuyên môn về các ngành tôn giáo, giáo dục, tâm lý, giảng thuyết để thu hấp dân chúng.

(11) Dùng tài nguyên và sách lược thu phục, ngoại giao với các cấp chánh quyền để mở mang “thiên quốc” trong chốn địa ngục trần gian.

Trong bài tham luận này, chúng tôi chỉ đưa ra một tấm kính để nhìn, nhằm gợi cảm thêm những thao thức và đóng góp chút kinh nghiệm giới hạn trong hạnh nguyện tu tập để tạo niềm an lạc cá nhân, xây dựng hạnh phúc gia đình của người Phât tử cư sĩ. Thêm vào đó là vai trò lợi tha tức là công tác từ thiện xã hội, cứu tế nhân gian mà hầu hết những người Phật tử cư sĩ hằng lưu tâm tới, nhưng vì thiếu khích lệ, huy động hoặc không biết bắt đầu từ đâu. Ta hãy bắt đầu bằng ý thức, rồi sẽ cùng nhau hành động.

Thời đại đức Phật có nam Phật tử cư sĩ Cấp Cô Độc, có nữ Phật tử cư sĩ Visakha, là hai người tiêu biểu cho những Phật tử cư sĩ nhiệt tâm hộ trì Tam Bảo, dấn thân làm công tác từ thiện xã hội nhằm giáo dục, cứu khổ người nghèo. Ngày nay trong cộng đồng Phật giáo khắp nơi trên thế giới cũng không thiếu những Phật tử cư sĩ có đại hạnh đóng góp bàn tay, khối óc, tài vật và dấn thân phụng sự chánh pháp, quần sanh. Người Phật tử cư sĩ Việt Nam ở Hoa Kỳ và các nước ngoài hãy đoàn kết, tập hợp nhau lại để tu tập cứu người và giải khổ.

Hãy thắp lên ngọn đèn ý thức
Cho tình gầy lớn dậy tin yêu
Hãy nhiếp niệm trở về hơi thờ
Cho nụ cười ướp ngọt sân si
Là lửa ấm cõi lòng băng giá
Phủ thân côi chiếc áo nhân từ
Hãy lau khô nước mắt nghèo đói
Bằng bát cơm thơm ngát diệu thường
Hãy nhỏ xuống quê hương thù hận
Giọt cam lồ rửa sạch oan khiên
Hãy quên đi khối sầu dỉ vãng
Cho mùa xuân hoa nở muôn nhà
Hãy gieo xuống giống lành thiện mỹ
Cho thiên đường hiện xuống trần gian
Em và tôi hóa thân dòng sông “Vô Niệm”.

THÍCH TỊNH TỪ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s