Sự hội ngộ giữa Văn Thù và Duy Ma Cật là cuộc gặp gỡ giữa đỉnh cao của thanh tịnh và trí tuệ, làm đảo lộn cái thấy đoạn kiến hạn cuộc, khiến vô minh phiền não tự rơi rụng. Từ cái tri thức khái niệm mù mờ, sanh diệt, đạo đoạn, hành giả thấy được điều không thể thấy, hiểu được điều không thể hiểu — tịch diệt vắng lặng, vượt ngoài mọi diễn đạt bằng ngôn ngữ — đó chính là Bất khả tư nghì.
Phật tính được lan tỏa từ đức hạnh thanh khiết, không biểu hiện phô trương bằng sắc tướng dị biệt, nhưng mở rộng đầy đủ diệu hữu, an trú trong pháp không, thành tựu trang nghiêm công đức.
Đứng trên hiện tượng còn vướng mắc vọng niệm, nhiễm trước không tưởng, mà diễn bày Phật pháp thì là phản tác dụng giáo dục — chỉ dẫn đến thế gian pháp, như mơ trong mơ.
Nhưng ngay trong dục vọng, vẫn có thể ươm mầm trí tuệ. Nếu sự ham muốn ấy được hướng về từ bi vị tha, thì dục vọng được chuyển hóa thành hạnh phúc an lạc hoàn toàn.
Người Huynh trưởng GĐPT thực tập tu học Phật pháp trên lập trường chánh niệm Bất tư nghì, vượt lên trên nhị nguyên đối đãi, mới có thể cảm nhận được sự chuyển hóa từ sâu thẳm. Hương vị giải thoát được toát lên — chỉ có người thật sự khát nước, khi hớp từng ngụm trà sen, mới cảm thấu, thấm đẫm được hương vị mát dịu và đậm đà của nước. Hạnh phúc thật sự luôn bình dị, nhẹ nhàng và thanh thoát.

Tư tưởng Bất tư nghì là một hướng nhìn mới, thông thoáng, không phân hạn giữa nhân và ngã. Thấy tâm còn bệnh thì tìm cầu thiện tri thức để được khai thị; thấy kiến thức còn khiếm khuyết, thấy đức hạnh còn hèn kém thì nỗ lực tinh tấn, rèn luyện để vươn lên. Thấy tha nhân còn lạc lõng, tha hóa, thấy người cần được độ, liền phát tâm tích cực, kiên cố lập chí, hành hoạt Phật sự, chuyển hóa và dung nhiếp cho đến toàn thiện.
Phương tiện diệu thủ tạo nên mảnh đất phì nhiêu, giúp tha nhân gieo trồng hạt giống Bồ-đề kiên cố. Đem toà sư tử vô ngại đặt đúng vào nguyên vị của “ưng vô sở trụ”, để biểu hiện sự bình đẳng tuyệt đối — nơi không còn năng độ, sở độ, mà chỉ còn pháp giới nhất như.
Nhân thức hiện tượng nhị nguyên mà có uế, có trược, có tịnh và bất tịnh. Bởi ý niệm sai biệt, con người cắt xén thực tại thành những mảnh vụn rời rạc, để phục vụ cho dục lạc đam mê vị kỷ. Nhưng mặt trái của sự thỏa mãn nhất thời là nỗi nhàm chán rây rức triền miên, khi đối diện thực tại chông gai, gian khó, khiến lòng chùn xuống, thối chí và đau khổ tột cùng.
Từ tục đế mà tỉnh thức, thể nhập bản chất như thật của sinh diệt, trên dưới, cao thấp trong thế giới khái niệm hữu hạn khách quan. Khi đạt đến chân đế, hành giả chứng nghiệm được tính bất nhị, bình đẳng, nhất quán, kỳ diệu và toàn triệt.
“Tâm tịnh, thế giới tịnh.”
Tác giả Phan Văn Huy Tâm
