Malcolm Huxter* | Như Từ lược dịch: Phật pháp và thiền định cho giới trẻ | Buddha-Dharma and meditation for young people

Tuổi mới lớn thường là khoảng thời gian ương bướng, ngang ngạnh và phiêu lưu mạo hiểm, đồng thời lý tưởng hóa “đạo nghĩa” của các mối kết giao bè bạn đồng trang lứa là rất quan trọng. Đôi khi vì những nhận thức nông nổi mà có thể dẫn đến những hành động sự phá hoại. Trong khi đó, Phật pháp giúp đi vào lề lối khám phá, nhận thức, hòa nhập, hiểu biết và yêu thương. Là những con đường khám phá tích cực và lành mạnh, có thể bao gồm cả việc thực hành thiền định.

Trong quá khứ, tôi đã làm việc với tư cách là một nhà tâm lý học của vị thành niên, từ hỗ trợ cho nhiều cá nhân, hay nhiều tổ chức điều hành và thực hiện các khóa tu dành cho thanh thiếu niên. Hiện nay tuy tôi chuyên về tâm lý học lâm sàng với người lớn, nhưng thỉnh thoảng vẫn có những buổi gặp giới trẻ. Tôi đã tiếp nhận Phật Pháp khi còn rất nhỏ và giờ đây đã cũng trở thành bậc cha mẹ của ba cậu bé tuổi vị thành niên, sống giữa một cộng đồng nơi có những người trẻ tuổi khác, họ là một bộ phận quan trọng của xã hội.

Tất cả những trải nghiệm như tôi vừa kể, phần nào đã giúp thu thập sự hiểu biết về Phật pháp, cũng như thực hành thiền định sẽ hữu ích như thế nào đối với những người trẻ tuổi. Theo tôi, Phật pháp và thực hành thiền định có thể phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi nền văn hóa. Nó giúp giải phóng tinh thần, tình cảm và tâm hồn bất kể tuổi tác hay nền văn hóa nào.

Từ “Buddha,” bắt nguồn từ động từ gốc “budh” có nghĩa là “thức tỉnh” hoặc “hiểu”. Siddhartha Gautama đã trở thành một vị Phật cách đây khoảng 2550 năm và ông đã dạy những cách để “hiểu” hoặc “thức tỉnh”. Đối với tôi, Phật giáo đề cập đến một cách tiếp cận cuộc sống, dẫn đến việc “đánh thức” những trạng thái thân tâm và lời nói ảo tưởng thường vô ích, hầu giảm bớt hoặc thật sự chấm dứt chúng hoàn toàn.

Pháp có một số ý nghĩa, bao gồm: cách thức của mọi thứ, cách thức hoạt động thực tế, các quy luật cơ bản của vũ trụ, sự thật, lời dạy của Đức Phật và những điều hỗ trợ cho lời dạy của Đức Phật.

Thuật ngữ “thiền” có nhiều định nghĩa và đối với một số người, nó có thể gợi lên những ý tưởng thần bí và bí truyền. Thiền Phật giáo thường đề cập đến việc thực hành một số phương pháp chánh niệm và tập trung mạnh mẽ.

Trong khoảng thời gian làm việc nhiều với thanh thiếu niên, tôi đã cẩn thận không truyền đạo, nhưng nhận thấy tâm lý học Phật giáo cung cấp một phương pháp ứng dụng và hiệu quả. Pháp chỉ có thể được thực chứng bởi mỗi người và tất cả mọi người bởi và cho chính họ. Tuy nhiên, liên hệ với người khác bằng sự chấp nhận, lòng tốt, sự chân thành, lòng từ bi và tính xác thực mang lại cơ hội cho những người này, bất kể tuổi tác, thức tỉnh hương vị của Pháp. Dường như Phật Pháp có thể cung cấp cách mà những người trẻ tuổi quản lý các vấn đề quan trọng đối với họ, giảm bớt cảm xúc đau khổ cũng như trau dồi những cách sống, các mối quan hệ lành mạnh và tốt đẹp trong một cộng đồng xã hội.

“Bốn chân lý cao cả” – “four noble truths” – là những nguyên tắc dựa trên tâm lý học Phật giáo và thực hành thiền định, đồng thời có thể cho chúng ta cách hiểu những khó khăn trong cuộc sống và cách đối trị chúng. Về bản chất, bốn sự thật là hai mối quan hệ nhân quả. Ở cấp độ cơ bản nhất, bốn chân lý là: 1/ bất mãn hoặc căng thẳng; 2/ nguồn gốc của bất mãn; 3/ thoát khỏi căng thẳng; và 4/ con đường dẫn đến tự do. Bốn chân lý dựa trên sự hiểu biết rằng mọi sự vật đều thay đổi, rằng mọi sự vật đều phụ thuộc vào những thứ khác cho sự tồn tại của chúng và rằng mọi sự vật đều đặc trưng bởi cảm giác không đáng tin cậy hoặc không chắc chắn lan tỏa.

Sự thật đầu tiên có thể bao gồm tất cả những khó khăn căng thẳng về cảm xúc mà những người trẻ tuổi có thể gặp phải. Nó có thể bao gồm cảm xúc đau đớn, đau khổ và tuyệt vọng. Sự thật thứ hai chỉ ra rằng có bao nhiêu khó khăn về cảm xúc có thể gây ra bởi các trạng thái cảm xúc, hành vi và suy nghĩ, thường là theo chu kỳ, gây khó chịu và dẫn đến đau khổ hơn. Sự thật thứ ba cho thấy rằng có thể tìm thấy sự tự do về cảm xúc hoặc trước những khó khăn trong cuộc sống. Khi căng thẳng không có nguyên nhân, nó không phát sinh. Sự thật thứ tư là có những cách hoặc con đường dẫn đến tự do, giải thoát. Có nghĩa là, có những cách để biết, nhận thức, suy nghĩ, hành động, bằng chính tâm trí của chúng ta. Trau dồi trí tuệ bằng thiền định và hành động phù hợp với trí tuệ, phục vụ cho việc đoản mạch và thoát khỏi các phản ứng tiêu cực theo quán tính.

Bản chất của sự thật đầu tiên có thể rất đa dạng. Mỗi lứa tuổi đều có những thách thức riêng, có thể khó khăn. Một số thách thức được tìm thấy ở tuổi vị thành niên bao gồm:

  • đối phó với cơ thể khi cơ thể phát triển và trở nên tràn ngập các kích thích tố khác nhau,
  • cố gắng xác định bản thân và vị trí của mình giữa cộng đồng xã hội
  • tách biệt khỏi cha mẹ,
  • liên quan đến tình dục,
  • tìm ra cách liên hệ với những người khác,
  • xác định bản vị và làm thế nào để hướng đến chủ nghĩa lý tưởng và lòng nhiệt tình, đam mê,
  • học cách đối phó với những cảm xúc cực đoan, đặc biệt là những cảm xúc liên quan đến việc yêu và thất tình hoặc xung đột,
  • đối phó với những suy nghĩ có thể xoay chuyển giữa cảm hứng và sự đau khổ,
  • cân bằng những thôi thúc phá hoại bốc đồng với sự sáng tạo tự phát,
  • và hiểu được bí ẩn của cuộc sống.

Bất kể tuổi tác, khi bốn chân lý trở nên hiển nhiên, nó là sự giải thoát sảng khoái. Nhận ra rằng chúng ta có quyền lựa chọn trong cách ứng phó với những thử thách khó khăn của cuộc sống (sự thật thứ tư) là một cái nhìn sâu sắc mạnh mẽ có thể chữa lành và mang lại lợi ích (sự thật thứ ba). Thức tỉnh (sự thật thứ ba) đối với tình yêu được tìm thấy trong mối liên hệ và kết nối với những sinh vật khác là một nhận thức khác có thể giải quyết nỗi cô độc, tuyệt vọng và thống khổ (các khía cạnh của sự thật thứ nhất).

Cách thức phát sinh những nhận thức này khác nhau giữa mỗi cá nhân. Điều đó có liên quan đến các nhóm tuổi cụ thể cũng khác nhau. Theo kinh nghiệm của tmình, những người trẻ tuổi nhiệt tình hưởng ứng Phật pháp và thực hành thiền định khi nó có ý nghĩa, có thể áp dụng, dễ hiểu và phù hợp. Thiền là một cách mà những người trẻ tuổi có thể tự mình khám phá ra bốn sự thật.

Theo kinh nghiệm của tôi, nhiều người trẻ ban đầu thiếu tự tin hoặc né tránh ý tưởng thực hành thiền định vì họ quan niệm nó là cách tự cô lập, một mình, yên tĩnh, tĩnh lặng, nhàm chán, không suy nghĩ hoặc đầu óc trống rỗng. Các thực hành được coi là rất kỳ lạ hoặc không thích thú. Mặc dù thiền định có thể bao gồm những khoảng thời gian tĩnh lặng nhưng nó cũng có thể rất năng động và hấp dẫn.

Khi những người trẻ tuổi nhận ra rằng thực hành thiền định không cần thiết chỉ ngồi yên trên đệm (bồ đoàn) mà có thể bao gồm chuyển động, hoạt động sáng tạo, tương tác, vui vẻ và liên hệ với bạn bè của mình, họ sẽ thích thử nó hơn.

Có nhiều kiểu thiền và cách thiền khác nhau. Hai phương pháp thiền định phổ biến của Phật giáo là chánh niệm và tâm từ (quán từ bi). Chánh niệm đề cập đến việc ghi nhớ, chú ý đến trải nghiệm khoảnh khắc hiện tại với thái độ không phán xét. Cũng như thực hành thiền định, chánh niệm được hiểu là một kỹ năng đối trị và một phương thức tự tại.

Chánh niệm là một phương pháp có thể được thực hành ở mọi tư thế và trong mọi tình huống. Ví dụ, bạn có thể tập trung lướt ván, khiêu vũ, ăn uống, nghe nhạc, chơi nhạc, xem TV, đi chơi với bạn bè, đi bộ xuống phố, hoặc đơn giản là ngồi và hít thở.

Có rất nhiều cách sáng tạo mà những người trẻ tuổi có thể học hỏi và thực hành chánh niệm. Chánh niệm cung cấp một cách để người trẻ hiện diện và tham gia một cách sáng tạo vào cuộc sống mà không bị điều khiển, lôi cuốn hoặc lạc vào những khuôn mẫu có thể dẫn đến những con đường phá hoại.

Lòng nhân ái đề cập đến sự quan tâm, thân thiện, hoặc lòng tốt của trái tim đối với bản thân và những sinh vật khác. Lòng nhân ái xóa tan sự chia rẽ và nâng cao cảm giác liên hệ giữa chúng ta với mọi loài. Theo các giáo lý Phật giáo, lòng từ có thể thúc đẩy sức khỏe, sắc đẹp, giấc ngủ ngon, khả năng đi vào giấc ngủ dễ dàng, giấc mơ dễ chịu, bình an, tập trung, hòa hợp giữa các cá nhân và rất có thể hóa giải phiền não thù hận, ác ý hoặc hung hăng. Giống như chánh niệm, lòng từ có thể được thực hành như một cách ngồi thiền thực thụ hoặc nó có thể được trau dồi và chia sẻ trong các hoạt động hàng ngày khi chúng ta tương tác với thế giới xung quanh.

Cả chánh niệm và lòng nhân ái đều có thể giải quyết và giúp giải quyết nhiều tình huống khó xử hoặc những thách thức mà thanh thiếu niên phải đối mặt. Cả chánh niệm và lòng từ đều cung cấp những cách tồn tại và liên hệ trong cộng đồng xã hội.

Có cơ hội hiểu Phật Pháp và thực hành thiền định không đòi hỏi người trẻ phải trở thành “Phật tử” hoặc từ bỏ mối liên hệ với các tín ngưỡng và thực hành tâm linh hay tôn giáo khác. Ngược lại, Phật pháp và thực hành thiền định có thể được tích hợp với các tín ngưỡng tâm linh và tôn giáo khác như một sự bổ sung phong phú.

Tóm lại, Phật pháp dẫn đến việc thoát khỏi những khuôn mẫu cảm xúc, suy nghĩ và hành vi phá hoại theo thói quen. Thiền liên quan đến chánh niệm, tập trung, năng lượng tiến và là một phần của con đường để thức tỉnh và tự do. Phật pháp và thực hành thiền định có thể được trẻ vị thành niên thích nghi và tích hợp một cách nhiệt tình khi nó có ý nghĩa và phù hợp.

Chánh niệm và quán từ bi là hai thực hành thiền định, cũng là cách để tồn tại và liên hệ với bản thân và thế giới xung quanh chúng ta. Hai phương pháp thực hành này có thể đưa thanh thiếu niên đến sự bình yên, hòa hợp giữa mọi cá nhân, tình cảm tự do và hạnh phúc.

NHƯ TỪ phỏng và lược dịch

Buddha-Dharma and meditation
for young people

Malcolm Huxter, Buddhist meditator and clinical psychologist 2004

Adolescence is usually a time of exploration and experimentation and when peer relationships are all important. Sometimes this exploration can lead down destructive pathways. Buddha Dharma, on the other hand, provides pathways of awareness, discovery, relatedness, understanding and love.

These wholesome pathways of discovery can include meditation practice.

In the past I have worked as a psychologist with adolescents seeing individuals, running groups and conducting adolescent retreats. Currently I work as a clinical psychologist with adults and still see teenagers from time to time. As well as working professionally with young people I met Buddha Dharma as a teenager. I have also been a father of three teenage boys and have lived in communities where young people are part of the social milieu.

These experiences have all helped to provide understanding about how helpful Buddha Dharma and meditation practice can be with young people. In my opinion, Buddha Dharma and meditation practice can be adapted to all ages and cultures and it is mentally, emotionally and spiritually liberating regardless of age or culture.

The word “Buddha” comes from the verb root “budh” which means “to awaken” or “to understand”. Siddhartha Gautama became a Buddha about 2550 years ago and he taught ways to “understand” or “awaken”. For me, Buddhism refers to an approach to life that leads to “waking up” to illusive and often unhelpful patterns of body mind and speech and committing to either reducing these patterns or ceasing them altogether.

Dharma has a number of meanings, which include: the way things are, the way reality works, the basic laws of the universe, the truth, the teachings of the Buddha and that, which supports the teachings of the Buddha

The term “meditation” has many definitions and for some it can conjure up mystical and esoteric ideas. Buddhist meditation usually refers to energetically practicing some form of mindfulness and concentration.

During the period of working intensely with teenagers, I was careful not to proselytise, but found Buddhist psychology provided a framework from which to work. Dharma can only be realised by each and everyone by and for themselves. Nonetheless, relating to others with acceptance, kindness, genuineness, compassion and authenticity provides the opportunity for these people, regardless of their age, to awaken to the taste of Dharma. It seemed that Dharma could provide a way for young people to manage issues important to them, reduce emotional distress as well as cultivate wholesome and healthy ways of being and relating in the world.

The “four noble truths” are the principles on which Buddhist psychology and meditation practice are based, and can give us a way of understanding life’s difficulties and ways to manage them. The four truths are, in essence, two cause and effect relationships. At the most basic level the four truths are 1/discontent or stress 2/origins of discontent 3/freedom from stress and 4/pathways to freedom. The four truths are based on the understanding that all things change, that all things are contingent on other things for their existence and that all things are characterised by a pervasive sense of unreliability or uncertainty.

The first truth can include all possible stressful emotional difficulties that young people may experience. It can include emotional pain, anguish and despair. The second truth points to how many of the emotion difficulties can be caused by emotional, behavioural, and thinking patterns, often cyclic, that are unpleasant and lead to further distress. The third truth shows that it is possible to find emotional freedom from or with life’s difficulties. When there is no cause for stress, it does not arise. The fourth truth is that there are ways or paths to freedom. That is, there are ways to know, be aware, think, act, still our minds and be present. Cultivating wisdom with meditation and acting in accordance with wisdom, serves to short circuit and exit from negative cyclic reactions.

The nature of the first truth can be diverse. Every age group has unique challenges, which can be difficult. Some challenges found in adolescence include:

  • coping with the body as it grows and becomes flooded with various hormones,
  • trying to work out who and what we are suppose to be in the world,
  • individuation from parents with an identity separate from them,
  • coming to terms with sexuality,
  • working out how to relate to others,
  • knowing where and how to direct passionate idealism and energy,
  • learning how to cope with extreme emotions, especially ones related to falling in and out of love or being in conflict,
  • dealing with thoughts that can swing between inspiration and torment,
  • balancing impulsive destructive urges with spontaneous creativity,
  • and comprehending the mystery of life

Regardless of age, when the four truths become evident, it is refreshingly liberating. Realising that we have a choice in how to respond to life’s difficult challenges (the fourth truth) is a powerful insight that is healing and beneficial (the third truth). Awakening (the third truth) to the love found in relatedness and connection with other beings is another realisation that can resolve the pain of isolation, despair and anguish (aspects of the first truth).

The way these realisations arise varies from individual to individual. That which is relevant for particular age groups also varies. In my experience, young people respond enthusiastically to Buddha Dharma and meditation practice when it is meaningful, applicable, appropriate, understandable and relevant. Meditation is one way that young people can discover the four truths for themselves.

In my experience, many young people initially lack confidence with or shy away from the idea of meditation because they conceive it as the practice of being isolated, alone, quiet, still, boring, not thinking or having an empty mind. Practices that are seen as either very alien or unwanted. Though meditation may include periods of quietude and stillness it can also be vibrantly dynamic and engaging.

When young people realize that meditation practice is not necessary only sitting still on a cushion and can include movement, creative activities, being engaged, having fun, and relating to their peers, they are more interested to try it.

There are many different types of meditation and ways to meditate. Two common Buddhist meditation practices are mindfulness and loving kindness. Mindfulness refers to remembering to be attentive to present moment experience in a manner that is non-judgemental. As well as a meditation practice, mindfulness is understood as a coping skill and a mode of being.

Mindfulness is a powerful tool to short circuit reactive and compulsive cyclic patterns and it can be practiced in all postures and in any situation. For example, it is possible to be mindful surfing, dancing, eating, listening to music, playing music, watching TV, hanging out with friends, walking down the street, or simply sitting and breathing.

There are many creative ways that young people can learn and practice mindfulness. Mindfulness provides a way for young people to be present and creatively engaged in life without being hijacked or lost to patterns that may lead down destructive pathways.

Loving-kindness refers to heart felt care, friendliness, concern or kindness for oneself and other beings. Loving-kindness melts divisions and enhances the sense of inter-relatedness that we have with other living beings. According to Buddhist texts, loving-kindness can promote health, beauty, restful sleep, the ability to fall asleep easily, pleasant dreams, peacefulness, concentration, interpersonal harmony and can greatly undermine the affliction of hatred, ill will or aggression. Like mindfulness, loving-kindness can be practiced as a formal sitting meditation or it can be cultivated and shared in daily activities as we interact with the world around us.

Both mindfulness and loving kindness can address and help resolve many of the dilemmas or challenges faced by adolescents. Both mindfulness and loving-kindness provide ways of being and relating in the world.

Having the opportunity to understand Buddha Dharma and practice meditation does not require young people to become “Buddhist” or abandon links with other spiritual or religious beliefs and practices. On the contrary, Buddha Dharma and meditation practice can be integrated with other spiritual and religious beliefs in a complementary manner.

In summary, Buddha Dharma leads to being free from habitual destructive emotional, thinking and behavioural patterns. Meditation involves mindfulness, concentration and energy and is part of the way to awaken and be free. Buddha Dharma and meditation practice can be enthusiastically adapted and integrated by adolescents when it is meaningful and relevant.

Mindfulness and loving-kindness are two meditation practices that are also ways of being and relating with oneself and world around us. These two practices can lead adolescents to peacefulness, interpersonal harmony, and emotional freedom and wellbeing.

Leave a Reply