Spirituality & Practice | Bửu Thành giới thiệu: Thuyết ngôn ngữ của Phật giáo | A Buddhist Theory of Language

BỬU THÀNH | Tu Thư Sen Trắng: “Nếu gác qua tính chất tôn giáo, cùng nền tảng triết lý của nó, khoa nghi chẩn tế được đem ra thực hiện ở nhân gian, một cách nào đó, là những tiếng than ai oán, và uất ức, của những con người cô khổ, sống kiếp lưu linh đày đọa. Tác dụng văn chương của nó có thể thấy rõ qua kiệt tác Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du. Nghi thức thực hành vẫn y nguyên chữ Hán, người không học chữ Hán tất nhiên không thưởng thức được khí vị văn chương trong đó. Tuy nhiên, khi đến đoạn thỉnh thập loại chúng sinh, bấy giờ thường gần khoảng giữa khuya tỉnh mịch, điệu thỉnh theo giọng ai của các kinh sư, mỗi người thay nhau đọc một đoạn, thì dù không hiểu lời văn, nhưng giọng văn vẫn có tác dụng truyền cảm đặc biệt. Cho nên, khi thiết lễ chẩn tế, không những người ta chỉ thỏa mãn một khía cạnh tín ngưỡng tôn giáo nào đó, mà còn là bị lôi cuốn bởi sức tác dụng văn chương và nghệ thuật qua giọng điệu thành khẩn thiết tha của nó…”

Có lẽ, một phần nào đó, anh chị trưởng nếu đã từng đọc qua “Lễ tháng Bảy cho những Oan hồn bạt độ” của thầy Tuệ Sỹ, ở đoạn trích trên, thì có thể tìm thấy một chút đồng cảm khi tham khảo bài này. Tất nhiên cũng chỉ giới hạn ở thế hệ nào đó mà thôi, vì tôi không chắc cảm xúc như vậy có còn tiếp tục diễn ra với các thế hệ con, em mình nơi quê hương thứ hai hôm nay hay không? Nhưng đây là câu chuyện của cô Sharon Lin, đăng trên tạp chí Spirituality & Practice: Kidspirit Youth Voice, vào năm 2017, bấy giờ Sharon Lin đang là học sinh năm thứ hai tại trường trung học Stuyvesant ở thành phố New York.

Ở đây, cũng cần giới thiệu một chút xíu về tạp chí Kidspirit, là tờ báo tâm linh duy nhất dành cho thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 11 đến 17, có tòa soạn tại thành phố Claremont, California – USA, và đã hoạt động trên mười năm. Nhận định rằng những người trẻ tuổi tràn đầy trí tuệ và tầm nhìn xa, tiếng nói của họ là một phần thiết yếu trong các thảo luận về đời sống tâm linh. Tuy nhiên, hiếm khi họ được mời chia sẻ cái nhìn sâu sắc của mình với các thế hệ khác. Kidspirit Youth Voice tạo điều kiện chính thức cho thanh niên trên toàn thế giới chia sẻ quan điểm của họ về các câu hỏi ý nghĩa trên tinh thần cởi mở và hòa hợp. Trong suốt thời gian hoạt động, hàng trăm cộng tác viên trẻ tuổi từ mọi hoàn cảnh và truyền thống đã bày tỏ ý tưởng và nguyện vọng của mình về những câu hỏi lớn trong cuộc sống, tạo ra một cuộc đối thoại sinh động mà độc giả quan tâm ở mọi lứa tuổi cảm thấy giàu cảm hứng và đáng suy ngẫm.

Nội dung tạp chí KidSpirit được đóng góp bởi những người thuộc mọi tôn giáo. Một số bài tiểu luận tập trung vào một truyền thống đức tin hoặc trí tuệ cụ thể, một số có nguồn gốc từ nhiều truyền thống, và một số mô tả lại một hành trình cá nhân độc đáo. Trong nhiều trường hợp, các bài đăng bao gồm những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ trẻ của KidSpirit.

Như vậy, những quan sát của tuổi trẻ tôn giáo thể hiện một phần quan trọng trong nhịp đập tinh thần của thế giới và mở ra cho chúng ta những cách nhìn và cách sống mới trong thế giới. Lời nói của họ khai thác những cảm xúc và nhận thức vượt thời gian mà nhiều người lớn có thể đã lãng quên, hoặc thậm chí không bao giờ nghĩ đến. Khi chúng ta chìm đắm trong tin tức về những thảm kịch và đau thương trên toàn cầu, nhiều người trong chúng ta ngày càng lo lắng về tương lai của hành tinh này, thì những cộng tác viên trẻ tuổi của KidSpirit cố gắng đáp ứng thế giới đầy khó khăn của chúng ta bằng sự lạc quan, lòng trắc ẩn và mong muốn sâu sắc có thể hàn gắn những rạn nứt đang đe dọa nhân loại chung của chúng ta. Tiếng nói của họ là thành trì chống lại sự tuyệt vọng nhưng đồng thời kêu gọi chúng ta tâm niệm rằng -một trong những yếu tố quan trọng nhất của đức tin tôn giáo – là tiếp cận những tra vấn muôn đời khởi đi bằng sự hoài nghi…

Bây giờ trở lại, chúng ta cùng lắng nghe câu chuyện của Sharon Lin, do đâu mà vẫn có một hấp lực vô hình, từ những âm thanh tưởng chừng không dễ hoặc không thể hiểu, nhưng vẫn da diết lôi cuốn chúng ta ở mỗi thời kinh tụng…

Nam Mô Thường Hoan Hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tôi quỳ trên chiếc khăn lụa trải trên sàn gỗ cứng, đầu cúi xuống thầm cầu nguyện trước bàn thờ của tổ tiên. Tôi nghe thấy những âm thanh nặng nề, nếu không muốn nói là nghẹt thở, do tiếng tụng kinh của các nhà sư qua máy nghe nhạc cũ ở bên cạnh ngôi đền màu đỏ mục nát.

Với tôi, không có một khoảng lặng nào vào mỗi sáng thứ bảy. Khi bình minh vừa ló dạng, bà tôi sẽ thức dậy và bắt đầu thời công phu, và quỳ lạy tổ tiên, cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn cho gia đình. Không phải chúng tôi đã không có một cuộc sống tốt, nhưng niềm tin về một cuộc sống tốt đẹp hơn được dành cho những ai có thể nỗ lực siêng năng cầu nguyện thay vì ngủ thêm một giờ. Chỉ khi tin như vậy, chúng ta mới có thể thừa nhận và đánh giá cao công lao của những người đi trước đã đưa chúng ta đến với thế giới này.

Bà tôi nói bằng tiếng Mẹ đẻ của bà trong khi chúng tôi quỳ gối. Mặc dù tôi cũng kha khá hiểu được tiếng Mẹ đẻ, nhưng trong đầu tôi lại thấy những từ dịch sang tiếng Anh. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi này, tôi tự hỏi làm thế nào và tại sao tôi có thể hiểu điều gì đó được nói với hình thức khác nhau, và liệu những âm thanh vật lý của ngôn ngữ có phải là biểu hiện của một thứ gì đó lớn hơn nhiều hay không. Ví dụ, tôi không thể hiểu bất cứ điều gì trong đoạn ghi âm của các nhà sư tụng kinh, nhưng tôi hoàn toàn hiểu được tâm tư tình cảm của họ. Họ có thể hát một cách vô nghĩa, nhưng ý nghĩa đó đã vang lên trong tôi.

Có một khái niệm được gọi là Lý thuyết Ngôn ngữ Phật giáo, đó là một lý thuyết cho rằng tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ đều bắt nguồn từ sự kết hợp của các đặc điểm lồng vào nhau, chẳng hạn như vô thường hay nhận thức về tính tạm thời, hiện diện trong mọi hình thức giao tiếp. Mặc dù khái niệm này không phải là duy nhất của Phật giáo, nhưng nó có nguồn gốc từ các khái niệm Phật giáo về Tứ diệu đế và sự tùy duyên. Cổ nhân giải thích rằng tất cả các trạng thái tạm thời đều không thỏa mãn, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục khao khát chúng, và chỉ theo Bát Chánh Đạo mới giải tỏa được chúng ta khỏi sự thèm muốn này. Rốt cuộc cho thấy rằng quyền tự quyết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, và ngăn chúng ta khỏi những sức mạnh độc đoán của một thế lực bên ngoài.

Các nhà ngôn ngữ học đã mô tả gốc rễ của ngôn ngữ là đau khổ. Theo nghĩa Phật giáo của thuật ngữ này, đau khổ tượng trưng cho sự thừa nhận những khó khăn tinh thần. Nó xuất phát từ tinh thần trách nhiệm: nắm quyền kiểm soát và đặt mình vào vị trí mà bạn không thể thoát ra. Theo Tứ Diệu Đế, trong việc tạo ra ngôn ngữ, chúng ta theo đuổi ý tưởng về một ý nghĩa tạm thời mà chúng ta khao khát kiểm soát và sử dụng để đại diện cho những suy nghĩ và cảm xúc của chính mình. Tuy nhiên, để đạt được bình an nội tâm thực sự, chúng ta phải chấm dứt sự thèm muốn này. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể đạt được sự an lạc. Trong khi đó khó khăn nằm ở chỗ, cảm giác tách biệt và cần kiểm soát này về cơ bản là điều mà nhiều người cảm thấy thúc bách họ. Để loại bỏ nhu cầu như vậy, đòi hỏi phải xác định lại không chỉ tư duy của con người mà còn về chính cuộc sống của chúng ta.

Phật tử chúng ta được dạy rằng điều cần thiết là phải nhận thức được sự đau khổ này để đánh giá đầy đủ về cuộc sống của mình. Kể từ khi còn đi học, chúng ta được dạy rằng việc sử dụng lời nói tử tế và đối xử tốt với người khác tương đương với nghĩa vụ và trách nhiệm. Mặc dù việc tuân theo những nghĩa vụ này có vẻ không phải là một hành động “đau khổ”, nhưng chúng ta thừa nhận rằng chúng ta không thể thể hiện ý chí tự do triệt để.

Trách nhiệm này đối với người khác được thể hiện thông qua việc thực hành Bát Chánh Đạo, một khái niệm trong Phật giáo đóng vai trò như một kim chỉ nam, hướng dẫn cho một con đường trong cuộc sống sẽ dẫn đến việc chấm dứt đau khổ. Yếu tố thứ ba của con đường này được gọi là Chính ngữ: các cá nhân nên chịu trách nhiệm về những gì họ nói, không sử dụng lời nói quá tiêu cực và chỉ nói những lời không gây hại.

Trong khi theo truyền thống, Phật giáo được coi là tôn giáo, nó đóng một vai trò rộng lớn hơn đối với những người theo lối sống Phật giáo. Nó đóng vai trò là kim chỉ nam cho một cuộc sống khám phá lý do tồn tại của chúng ta và trình bày các phương pháp để hiểu rõ hơn về bản chất không thỏa mãn của nhiều trải nghiệm hàng ngày của mình. Tương tự, theo Thuyết Ngôn ngữ của Phật giáo, ngôn ngữ chỉ đơn giản là một phác thảo của sự giao tiếp của chúng ta, không phải là bản thân sự giao tiếp.

Một khái niệm khác trong Phật giáo là Tính Không, niềm tin rằng không có gì tồn tại bằng sức mạnh của chính nó, và sự thay đổi và vô thường là cơ bản. Qua những lời dạy của mình, Đức Phật đã chỉ ra bản chất thực sự của sự tồn tại có điều kiện và, tùy thuộc vào tông phái Phật giáo mà người ta theo đuổi, đã trình bày những phương pháp khác nhau để dẫn đến một cuộc sống hưng thịnh. Về cách chúng ta giao tiếp, âm thanh và ý nghĩa cũng trống rỗng như sự vô thường của sự tồn tại. Âm thanh về cơ bản là sóng rung các hạt không khí, và ý nghĩa chỉ đơn giản là những ý tưởng mà chúng ta đưa ra cho một số quá trình suy nghĩ nhất định bằng cách nào đó cho phép chúng ta hình dung ra những ý tưởng vô cùng phức tạp. Đối với Phật tử, điều này có nghĩa là âm thanh và ý nghĩa đều là những ý niệm vô thường. Chúng ta nên cố gắng không phát triển nhận thức của mình về ngôn ngữ xung quanh các trạng thái tùy thuộc ngoại cảnh như vậy. Thay vào đó, chúng ta nên nhận ra rằng ngôn ngữ là bao trùm tất cả. Nó không phải là sự hiểu biết về âm thanh hoặc đồ vật, mà là một thực thể không thể diễn tả được thể hiện suy nghĩ của chúng ta ở dạng có thể hiểu được.

Trong khi một số kết hợp âm thanh nhất định có thể có nghĩa là một thứ trong một ngôn ngữ, một sự kết hợp khác của những âm thanh giống nhau có thể có nghĩa hoàn toàn khác trong ngôn ngữ khác. Ngay cả sự kết hợp giống nhau của những âm thanh giống nhau cũng có thể có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh. Những từ được viết trên màn hình này có thể có ý nghĩa đối với bạn, nhưng chúng có thể dễ dàng xuất hiện dưới dạng nét vẽ nguệch ngoạc trên một bức tường sáng rực đối với những người không quen viết tiếng Anh. Tuy nhiên, những ý tưởng mà những từ này đại diện vẫn tồn tại. Những hoán vị nhất định có thể không tồn tại đối với những người ở các nền văn hóa khác nhau không tiếp xúc với những ý tưởng giống như chúng ta, nhưng những ý tưởng đó vẫn có thể được thể hiện bởi tâm trí con người. Do đó, nó đặt ra câu hỏi tại sao ngay từ đầu ngôn ngữ lại cần thiết đến vậy, và tại sao chúng ta lại chọn nói và viết làm phương tiện giao tiếp chính của mình.

Điều đáng kinh ngạc là các khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ có thể độc đoán và có ý nghĩa. Sự phụ thuộc lẫn nhau là một khái niệm trong Phật giáo mô tả cách các yếu tố khác nhau trên thế giới liên hệ với nhau. Cũng giống như chúng ta học cách nói từ cha mẹ và từ những người đi trước của họ, chúng ta không ngừng ảnh hưởng đến những người xung quanh. Ngôn ngữ đan xen trong và ngoài sự tồn tại của con người, xây dựng dựa trên các thế hệ ngôn ngữ trước đó và ảnh hưởng đến các thế hệ mới hơn sau này.

Truyền thống của tôi với tư cách là một Phật tử vẫn mang tính tôn giáo hơn là thế tục, nhưng tôi tin rằng ngay cả các khía cạnh tôn giáo cũng có thể có ý nghĩa trong bối cảnh thế tục. Thay vì xem Bát Chánh Đạo như một khái niệm Phật giáo riêng biệt, việc áp dụng các hành động vào cuộc sống hàng ngày cũng có thể có nhiều tác động. Tuân theo các khái niệm được giảng dạy bởi các nhà sư Phật giáo không giống như tin vào một vị thần linh hoặc các linh hồn có thể ra lệnh cho hành động của chúng ta. Thay vào đó, niềm tin Phật giáo là một hướng dẫn cho cách chúng ta nhìn nhận thế giới của mình và cách chúng ta có thể tạo ra tác động của chính mình, ngay cả thông qua những hành động nhỏ như nói một vài lời.

Ngay cả hôm nay, tôi vẫn thích những buổi sáng sớm ở bên bà ngoại. Mặc dù những từ ngữ bay ra khỏi đầu lưỡi tôi như những sợi tơ, tôi vẫn không thể hiểu được ý nghĩa thực sự của chúng. Nhưng nó không quan trọng. Biết rằng tất cả các ngôn ngữ được kết nối với nhau là một sự hiểu biết nhẹ nhàng, bởi vì thay vì đấu tranh để hiểu các tiếng nhấp và tiếng cốc keng khác nhau, thì việc hiểu được các âm vực tinh thần của các cụm từ sẽ dễ dàng hơn nhiều. Cũng giống như Thuyết Ngôn ngữ Phật giáo cho rằng tất cả các ngôn ngữ đều vô nghĩa đồng thời, có ý nghĩa. Tôi hiểu rằng bây giờ nó không cần kiến ​​thức hàn lâm để hiểu ngôn ngữ của Phật giáo. Đúng hơn, nó đòi hỏi sự thấu hiểu trong trái tim tôi.

Khi tôi nhắm mắt lại, siết chặt que hương mỏng bằng sậy giữa các ngón tay, tôi để những câu kinh cuốn lấy tôi, mùi thơm ngọt ngào của các loại thảo mộc đang cháy bao trùm lấy tôi, cho phép tôi chìm vào một trải nghiệm tâm linh. Bản thân các từ, xét cho cùng, chỉ là âm thanh rung động trong không khí. Những gì nó thể hiện nhiều hơn là biểu hiện vẻ ngoài của nó. Chúng đại diện cho sự hòa hợp và phụ thuộc lẫn nhau, là nền tảng của Phật giáo, ngôn ngữ và xã hội.

A Buddhist Theory of Language

I knelt on the silken scarf laid across the hardwood floor, my head bent in silent prayer to the spirits of my ancestors. I heard muffled sounds of chanting monks through the old music player at the side of the decaying red shrine.

There was no silence on Saturday morning for me. A little after the crack of dawn, my grandmother would rise and kowtow to our ancestors and pray for a better life for our family. It wasn’t that we didn’t already have a good life, but the promise of a better life was reserved for those who could make the effort to sacrifice an hour of their sleep. Only then could we acknowledge and appreciate the work of our predecessors who brought us into this world.

My grandmother spoke in her native Fujianese tongue while we kneeled. Although I was fluent in the dialect, I found the words translating into English in my head. For a brief moment, I wondered how and why I could understand something spoken in so many different ways, and whether the physical sounds of language were a manifestation of something much bigger. For instance, I could not understand anything in the recording of chanting monks, yet I understand their sentiment perfectly. They could have been singing gibberish, but the meaning resonated with me.

There is a concept known as the Buddhist Theory of Language, which is a theory that all aspects of language are derived from a combination of interlocking traits, such as impermanence and the realization of transience, present in all forms of communication. Although the concept is not uniquely Buddhist, it derives its roots from Buddhist concepts of the Four Noble Truths and arbitrariness. The former explains that all temporary states are unsatisfying, yet we continue to crave them, and that only following the Noble Eightfold Path will relieve us from this craving. The latter explains that self-determination gives meaning to life, and prevents us from the arbitrary powers of an external force, such as random chance.

Linguists have described the root of language as suffering. In the Buddhist sense of the term, suffering represents an acknowledgement of spiritual hardships. It comes from a sense of responsibility: to take control and place yourself in a position that you cannot escape. According to the Four Noble Truths, in creating language, we pursue the idea of a temporary meaning that we crave to control and use to represent our own thoughts and feelings. However, in order to achieve true inner peace, we have to cease in this craving. Only then may we achieve peace. Therein lies the difficulty. This sense of separation and need to control is essentially what many feel drives them. To eliminate such a need requires the redefinition not only of one’s mindset, but of one’s very life.

We Buddhists are taught that it is essential to become aware of this suffering in order to fully appreciate our lives. Since grade school, we are taught that using kind words and treating others well equate to duty and responsibility. Although following these duties may not seem to be an act of “suffering,” we are acknowledging that we cannot exhibit total and complete free will. We have a responsibility to hold others up to a similar standard that we hold ourselves and we recognize this as duty.

This responsibility towards others is exemplified through the use of the Eightfold Path, a concept in Buddhism that acts as a guidebook for a path in life that will lead to the end of suffering. The third factor of this path is known as Right Speech: individuals should take responsibility for what they say, not use their words too negatively, and speak only words that will do no harm.

While Buddhism is traditionally thought of as a religion, it plays a broader role for those who follow a Buddhist lifestyle. It serves as a guideline for a life that explores the reasons for our existence and presents methods for better understanding the unsatisfactory nature of many of our everyday experiences. Similarly, according to the Buddhist Theory of Language, language is simply an outline of our communication, not the communication itself.

Another concept in Buddhism is emptiness, the belief that nothing comes into existence by the power of itself, and that impermanence and change are fundamental. The Buddha showed through his teachings the true nature of conditioned existence and, depending on the sect of Buddhism one followed, presented various methods for leading a flourishing life. In terms of how we communicate, sounds and meanings are just as empty as the impermanence of existence. Sounds are essentially waves vibrating particles of air, and meanings are simply ideas we give to certain thought processes that somehow allow us to conceive of incredibly complex ideas. To Buddhists, this means that sound and meaning are both impermanent ideas. We should seek to not develop our perception of language around such arbitrary external states. Instead, we should recognize that language is all-encompassing. It is not an understanding of sounds or objects, but an indescribable entity that represents our thoughts in a comprehensible form.

While certain combinations of sounds may mean one thing in one language, another combination of the same sounds could mean something completely different in another. Even the same combination of the same sounds could mean radically different things, depending on who you ask. The words written on this screen might hold meaning for you, but they could easily appear as scribbles on a brightly lit wall for those unfamiliar with written English. Nevertheless, the ideas that these words represent exist. Certain permutations might not exist for people in different cultures not exposed to the same ideas as us, but the ideas can still be manifested by the human mind. Thus, it brings up the question as to why language is so necessary in the first place, and why we chose speaking and writing as our primary means of communication.

That different aspects of language can simultaneously be arbitrary and meaningful is astounding. Interdependence is a concept in Buddhism that describes how the different elements in the world relate. Just as we learned to speak from our parents, and they from their predecessors, we are constantly influencing those around us. Languages weave in and out of human existence, building upon earlier generations of languages and influencing newer generations to come.

My traditions as a Buddhist remain more religious than secular, but I believe that even the religious aspects can be meaningful in secular contexts. Rather than viewing the Noble Eightfold Path as a distinctly Buddhist concept, applying the actions to everyday life can have just as much impact. Following the concepts taught by Buddhist monks is not akin to believing in a higher-order deity or in spirits that may dictate our actions. Rather, Buddhist beliefs are more of a guide for how we perceive our world, and how we can make our own impact, even through actions as small as saying a few words.

Even today, I relish the early mornings spent by my grandmother’s side. Although the words fly off my tongue like silken thread, I still fail to understand their true meaning. And it doesn’t matter. Knowing that all languages are interconnected is a soothing understanding, because rather than fighting to comprehend the various clicks and slurs, it is far easier to comprehend the spiritual undertones of the phrases. Just as the Buddhist Theory of Language holds that all languages are simultaneously meaningless and meaningful, I understand now that it doesn’t require academic knowledge to understand the language of Buddhism. Rather, it requires understanding in my heart.

As I close my eyes, clasping the reed-thin stick of incense between my fingers, I let the songs and chant wash over me, the sweet smell of burning herbs enveloping me, allowing me to slip into a spiritual experience. The words themselves, after all, are just sounds vibrating through the air. What they represent is more than their external manifestation. They represent harmony and interdependence, the cornerstone of Buddhism, language, and society.

Sharon Lin is a sophomore at Stuyvesant High School, in New York. She loves writing prose and poetry, and her other hobbies include playing flute and piano, baking, watching documentaries, and studying philosophy. She participates in her school’s Lincoln Douglas debate team, varsity golf team, Technology Students Association, and Key Club. Sharon absolutely loves traveling to exotic locations and meeting quirky and interesting people from different backgrounds.

 

______________________________________

Source: Spirituality & Practice | A Buddhist Theory of Language

Leave a Reply