Thích Minh Thông | Giác Tuệ | Phước Thắng sưu tập và biên tập: Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, Trung Phần

Tư liệu về Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang rất nhiều, nhưng sau 1975 ngưng hoạt động gần như thất tán hết. Tuy vậy, nhiều văn bản, sách báo, hình ảnh…vẫn được lưu giữ trong tủ sách một số chùa trong nước, trong cựu học tăng… Riêng về nhân chứng hiện còn khỏe thì “bộ nhớ” của họ đã có thể cung cấp một số dữ liệu cần thiết của non 60 năm về trước về Tăng học đường, về PHV. Nhờ thế chúng tôi, những cựu học tăng đúc kết được một số sinh hoạt của Viện. Tuy nhiên, sự thiếu sót là không tránh khỏi vì trong số cựu học Tăng nhân chứng không ai sống trọn thời gian tồn tại của PHV, ngoài hai vị cửu trụ là thầy Trừng San và thầy Đỗng Minh nay đã quá vãng. Hơn nữa lớp bậc thầy, lớp đàn anh từ 1957 đến 1963 chỉ tu học tại PHV có vài năm rồi lên đường hoằng pháp hoặc làm Giảng sư, Giáo sư đại học, du học, Trụ trì, Hiệu trưởng Bồ-đề, giám học, giám thị, giáo sư bộ môn giáo lý…, nhân viên hãng Vị trai Bồ-đề, điều hành phòng thí nghiệm, sản xuất Hương giải thoát, điều hành phòng phát hành kinh sách, ấn quán Hoa Sen… hay thuyên chuyển ngược trở về Báo Quốc, hoặc vào Già Lam học đại học, sau khi Tu viện Già lam Quảng Hương thành lập vào năm 1961… thậm chí có không ít pháp hữu thôi tu… Cho nên, ít cựu học tăng nắm bắt hết sinh hoạt của PHV, đến nỗi lớp trước không biết lớp sau là những ai… Tất nhiên, tất cả học Tăng trước sau đều có danh bạ nhưng hồ sơ lưu trữ đã bị thiêu hủy hết. Bởi thể, đúc kết quá trình hoạt động của Viện sự hạn chế, thiếu sót không nhỏ, rất mong các Cựu học tăng (CHT) còn tại thế sống khắp thế gian niệm tình thứ xá và hãy coi đây là nén hương tưởng niệm tri ân quá khứ, ý nghĩa này là trên hết. Tuy nhiên, điều đúc kết này, có thể coi như bổ sung cho Tập “Phật Học Viện Trung Phần Hải Đức- Nha Trang” do Ban Phiên Dịch Pháp Tạng biên soạn, xuất bản 2009, đã trình bày tương đối rõ ràng về cơ cấu tổ chức, về đường hướng hoạt động, về các PHV vệ tinh, về 3 Đại Giới đàn, cũng như việc thành lập Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang (VCĐPHHĐNT) năm 1974. Sau đây là nội dung biên tập:

1) Sơ lược về địa lý và pháp lý chùa Hải Đức.

– Về địa lý: Khu đồi Trại Thủy[1] rộng lớn chạy vòng cung từ Đông sang Tây non 1km. Riêng diện tích đất đồi chùa chiếm hai phần ba toàn khu đồi rộng lớn, phía trước chân núi ôm vòng lồi lõm theo đất bằng Xóm Xưởng, phía sau chân núi vòng quanh giáp ranh với Xóm Phường Củi.

3 Xưởng đóng tàu về đời Tây Sơn đánh nhau với nhà Nguyễn Phúc, và thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cũng là chỗ chiến trường (theo ghi chú thơ của cư sĩ Chơn Quang Nguyễn Diệu)

Ranh mốc trên đỉnh đồi, phía Đông cách Kim Thân Phật Tổ không xa đến tận chân đồi phía Tây. Sở hữu chủ trước ngày 26-7-1956 (19-6-năm Bính Thân) thuộc về Hòa thượng Thích Phước Huệ. Sau ngày này thuộc về hai Tổng trị sự (Tăng già và Hội Phật học) mà đại diện là HT Thích Trí Thủ và Chánh Hội trưởng Thích Trí Quang có thẩm quyền sở hữu (Theo giấy Tình nguyện cúng chùa: Ký giao, HT Thích Phước Huệ và Ban Hộ tự; Ký nhận, HT Thích Trí Thủ, ngày 26-7-1956, cũng như văn bản phúc đáp của ngài Chánh Hội trưởng Thích Trí Quang).

– Về pháp lý: Theo văn thư của Tổng Tri Sự phúc đáp ngài HT Thích Phước Huệ, mang số 301 TTS Hc, đề ngày 29 tháng 6 năm 1956, Pl

2.519 mang chữ ký của ngài Chánh-Hội-Trưởng Tổng-Trị-Sự Hội Việt Nam Phật Học TT.Thích Trí Quang thì chủ quyền chùa Hải Đức sau ngày 26-7-1956 thuộc về Tổng Tri Sự, trụ sở đặt tại chùa Từ Đàm mà HT Thích Trí Thủ đại diện cho TTS trực tiếp quản lý Già lam Hải Đức. Như vậy, sau này thuộc cấp (Trong môn phái hoặc Tăng nào được nhị vị HT chỉ định thừa tiếp quản trị mới hợp pháp) muốn duy tu, muốn sang nhượng, muốn giở bỏ đều phải được đồng thuận của nhị vị HT) tự quyền, không thưa trình, không được sự chấp thuận, mọi việc làm của thuộc cấp không có đủ tư cách pháp lý.

2) Thành phần Ban Quản Trị Phật Học Viện

Ngay sau khi giao, nhận chùa Hải Đức , Tổng Tri Sự quyết định thành lập Ban Quản Trị gồm 6 vị:
Viện trưởng: Hòa thượng Thích Giác Nhiên Phó
Viện trưởng: Thượng tọa Thích Trí Quang
Giám viện: Thượng tọa Thích Trí Thủ
Giáo thọ trưởng: Thượng tọa Thích Thiện Siêu
Tổng Thư ký: Thượng toạ Thích Huyền Quang
Tổng Thủ quỹ: Thượng toạ Thích Thiện Minh

HT Thích Giác Nhiên  và TT. Thích Trí Thủ

Trong 6 vị, gánh nặng trọng trách là ngài Giám viện và ngài Giáo thọ trưởng. Hai ngài bắt tay điều hành guồng máy PHV, việc làm trước hết là mở Giới Đàn vào vía Thành đạo Đức Bổn sư 7,8,9 tháng Chạp năm Bính Thân, tức 7,8,9 tháng 1 năm 1957. Đây là Phật sự trọng đại đánh dấu sự ra đời PHVHĐNT. Giới Đàn có tiếng vang rất lớn không chỉ 17 Tỉnh miền Trung mà còn đến tận miền Nam. Các vị thầy trong nửa nước đều mong muốn đệ tử mình được vào tu học tại Tòng lâm này. Từ đó các bậc Tôn túc, Cao tăng trong nước thường về thăm viếng ngài Giám viện, động viên Ban điều hành PHV cũng như học chúng.

TT.T.Trí Quang, TT.T. Thiện Siêu, T.T.Huyền Quang và TT.T.Thiện Minh

Phụ tá đắc lực hai vị về học vụ, hành chánh, đời sống Tăng chúng, lúc đầu có thầy Chánh Nhàn, sau đó chính thức là thầy Trừng San, Đỗng Minh và hai chúng cư sĩ của PHV.

Đại đức Thích Đỗng Minh và Đại đức Thích Trừng San
(Ảnh từ album Phước Thắng và Nguyên Thanh)

Ngoài ra, Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa yểm trợ tích cực mọi mặt ngay từ buổi đầu thành lập. Việc ngoại hộ, xây dựng cơ sở vật chất lúc đầu là Ban Hộ Tự cũ, về sau chuyển cho chúng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di do ngài Giám viện thành lập… Trong đó vai trò vợ chồng cụ Võ Đình Dung, vợ chồng cụ Nguyễn Diệu, vợ chồng ông Bùi Liên, vợ chồng ông Nguyễn Lạc, bà Võ Đình Thụy và một số đông Thiện trí thức, Phật tử Thành phố Nha Trang…. đóng góp công đức thật lớn lao. Đối với hai thầy Trừng San, Đỗng Minh là những “Tri sự” tận tâm, tận lực đối với nhị vị điều hành nói riêng, Ban Quản Trị nói chung. Về sau hai thầy trở thành trợ lý đắc lực trong việc phát triển PHV, nhất là sau năm 1963.

Cảm hứng Tòng lâm Hải Đức khởi sắc, Cư sĩ Chơn Quang Nguyễn Diệu làm bài Vịnh khá dài, xin trích đoạn:

Viện Tăng học xây từ năm sáu (1956)
Mở Tòng lâm, điện báu trước, sau: 
Đăng lâm đường thấp, đường cao
Trai đường, Thiền thất, thẳng vào Tịnh hiên
….
Trông ngoại cảnh nghìn tầm non nước
Hoàng Ngưu Sơn (Đồng Bò) mặt trước quanh chầu
Sớm chiều mây ráng chen nhau
Rừng lam, khói biếc, đượm màu xanh xanh
….
Bức tranh lúa, trải thành tấm thảm
Giọt sương mai, dường nạm kim cương
….
Tiếng chuông Hải Đức vẳng xa muôn trùng.

3) Có thể phân ra hai giai đoạn: 1957-1963; 1964-1976.

3.1) Giai đoạn 1957- 1963:

Đầu năm 1957, PHV đi vào hoạt động. Toàn bộ Tăng sinh của THĐNT chuyển sang, trong đó THĐ có thu nhận thêm nhiều học tăng mới ở các tỉnh lân cận, tiêu biểu là Quảng Thành (Bùi Ngọc Đường), Nguyễn Lạc (Thiện Đạo)…., đã nhanh chóng ổn định. Còn Tăng sinh PHĐBQ lần lượt chuyển vào từng đợt, gồm có: Chánh Trực, Từ Mẫn, Thiện Hạnh, Thiện Bình, Thiên Chơn, Đức Trạm, Thiện Đức, Minh Tuệ, Minh Chiếu, Châu Đức, Chơn Ngữ, Thiện Giải, Trí Tánh, Thiện Phước (A,B), Đức Chơn, Thanh Hương, Nhật Lệ, Diệu Tánh, Phước Hải (Nguyễn Khánh), Minh Nghĩa, Quán Tâm (Lê Đình Hưng), Tâm Thuật (Trí Tri), Đức Tường (Đoàn Văn Hiền), Đức Huy, Toàn Chơn, Thật Tánh (Hồ Đắc Đỗng), Phước Thông (Hoàng Xuân Linh) Bửu Đàm, Phú Nhơn, Huệ Minh (Trần Kim Phú), Đạo Dung (Lê Văn Vỹ), Hải Thanh (Lê Văn Viện), Hải Tịnh (Trần Hữu Thuần), Hạnh Minh (Võ Trọng Trung), (5 Học tăng sau từ chùa Từ Đàm)…

Sau năm đó, năm nào cũng có nhiều thầy từ Huế, Quảng Trị xin đệ tử nhập học, như: Phạm Hữu Diệu, Hồ Khắc Dũng (Nguyên Giác), Phan Gia Du (Toàn Thiện), Lê Ngân (Toàn Hiệp), Huệ Nhật, Tánh Huệ, Tánh Dung, Phước Châu (Ngọc), Lê Hậu (Nguyên Hạnh), Hoàng Lựu (Kim), Hoàng Thuận, Nguyễn Tịnh Bình, Văn Minh, Nguyễn Phi Hùng, Lê Quang Đoàn ….Đến năm 1963 từ PHĐ Báo Quốc chuyển vào có: Bùi Ngọc Chấn (Thiện Thành), Nguyễn Tâm Huệ, Hòang Hải, Lê Tư Chỉ (Phước Đình), Trần Tâm Huấn (Nguyên), Nguyên Minh…

Các tỉnh khác gồm:

Phú Yên có: Thầy Viên Đức, Trì Liên (Trần Văn Hương), Thiện Thông (Nguyễn Bá Dần), Thiện Lợi (Nguyễn Dư), Đồng Tiến (Huỳnh Đồng Tiến). Sau năm 1957,1958, 1959… là Phước Hùng (Kim Long), Nguyên Đức (Nguyễn Văn Lê), Lâm Văn Cảnh, Nguyễn Xuân Cảnh, Nguyễn Thu (Đồng Thành) v.v…

Bình Định, sau các năm 1957, 1958, 1959… có: Hồ Bửu Thanh, Nhật Ban (Hồ Bửu Hoa), Nhật Châu (Hồ Công Luận), Thị Phước, Phước Sơn (Đặng Thành Công), Thiện Huệ (Trần Hữu Kiều), Phước An (Trần Hữu Cư), Phước Mỹ (Nguyễn Du), Phước Đạt (Đào Duy Thị), Đức Thắng (Nguyễn Bá Nghị), Phước Chí (Nguyễn Văn Huy), , Nhữ Đình Thân, Đặng Ngọc Chức (Tịnh Minh), Đặng Hữu Ích, Quảng Hạnh (Nguyễn Hồng Minh), Lê Anh Tuấn (Hai Tăng sinh sau từ Gia Lai, Kontum) v.v…

Quảng Nam, Quảng Ngãi: Thầy Trí Châu…, sau các năm 1957, 1958. 1959 có: Thiện Thông (Nguyễn Đức Ngại), Lê Văn Tỵ, Phạm Văn Chơn (Phước Minh) – Đà nẵng, Thiện Tường (Phan Miệng), Phước Nhơn, Phước Duyên (Cang), Phước Viên (Lâm), Hồ Tấn Long…

Khánh Hòa: Sau các năm 1957, 1958, 1959…. có: thầy Hạnh Phát, Nguyên Đạt (Phan Lý), Nguyên Lượng (Nguyễn Trí), Phước Niệm (Trang Văn Dật), Phước Thắng (Nguyễn Văn Tư), Hồ Văn Ẩn, Nguyên Thắng (Trẩm), Nguyên Văn Hòa (Phước Lý), Nguyên Thanh (Nguyễn Đẩu), Hải Mẫn (Thẩm Văn Niên), Trần Văn Mỹ, Nguyễn Văn Sinh, Phước Hạnh (Nguyễn Tiến Học), Không Tánh (Phan Ngọc Ấn, P. Rí), Nguyễn Văn Đàn (Quảng Dũng), Ngọc Lê, ….

Từ chùa Ấn Quang Sài Gòn: Đức Niệm, Hồng Huệ, Từ Mẫn (sau giám đốc nhà xb Lá Bối), Thiện Thông, Thiện Phú….

Từ chùa Từ Quang Sài Gòn: Giác Đức (Đức Hương, Trần Thanh Hưng), Giác Đạo…

Từ chùa Giác Tâm (SG) Sau năm 1957… có Nguyễn Như Thoản, Nguyễn Như Sếnh, Trần Ngọc Lộ. Phước Hân (Từ Hỷ) từ Tây Ninh, Nguyễn Văn Lộc từ Thủ Đức….

Có thể coi lớp Tăng sinh từ PHĐBQ, từ THĐNT, từ Ấn Quang, Từ Quang (SG), Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ngãi v.v… chuyển đến trong năm 1957, 1958,… là lớp Tăng sinh đầu tiên của PHVHĐNT.

Viện phân chia thành ba khối: Khối Tỳ-kheo, khối Sa-di và khối Điệu. Khối Tỳ kheo trực tiếp ngài Giáo thọ trưởng và ngài Giám viện giảng dạy Kinh học, Luật học, Luận học, Duy thức, Nhân minh…Soạn đề tài thuyết giảng, thuyết trình, tham khảo lịch sử Phật giáo trong nước, nước ngoài, Văn học Phật giáo thời Lý, Trần nói riêng… Mời giáo sư thỉnh giảng các bộ môn này, phần lớn học giả Cao Hữu Đính phụ trách, về sau có thêm thi sĩ Quách Tấn, cụ Chơn An, Lê Văn Định dạy Hán Nôm, Tứ thư, Ngũ kinh… Bà Võ Đình Thụy dạy Pháp văn, Thạch Trung Giã dạy văn học… Thầy Nhất Hạnh, Thiện Châu thuyết giảng các đề tài tu tập, thiền định, kinh nghiệm thuyết giảng… song song, các Tỳ-kheo theo học các lớp Trung học Bồ-đề hay các Trung học Tư thục nhị cấp trong thị xã Nha Trang kể cả trường công lập Võ Tánh. Ngoài ra, các Tỳ kheo đi thực tế xuống các Chi hội, Khuôn hội hay Tỉnh Giáo hội vào các ngày lễ vía lớn trong năm để thuyết giảng, hướng dẫn Phật tử Thọ Bát Quan Trai, tu tập, sinh hoạt đoàn thể, kiện toàn tư cách người Phật tử… Khoảng 1959, 1960 gần như các thầy của khối này đã hoằng pháp khắp các địa phương miền Trung, nhất là các thôn làng, miền núi thuộc các vùng liên khu 5 cũ, có vị giảng sư, có vị Trụ trì, giáo sư Bồ-đề, vị nào tiếp tục học đại học thì rời PHV vào Sài gòn hay ra Huế. Phải nói sinh hoạt từ Vức hội lên đến Tỉnh hội, dạy giáo lý Gia Đình Phật Tử… rất nền nếp, có tổ chức. Phật sự này, hầu hết các Sứ giả Như-lai xuất thân từ PHVNT khóa đầu đảm trách, đặt nền tảng cho các lớp sau kế tục. Cũng cần nói thêm thầy Thiện Châu, lúc bấy giờ là vị giảng sư nổi tiếng đang thuyết giảng ở các địa phương Phú Yên, Khánh Hòa và các Tỉnh khác… Thầy trở thành tấm gương hoằng pháp mẫu mực để Tăng sinh soi theo. Trong khối này, sau 1963 có một số du học như thầy Nguyên Hồng, Thiện Châu, Viên Dung, Lê Văn Hòa, Đức Niệm, Thuyền Ấn, Giác Đức… Khoảng năm 1971 thầy Nguyên Hồng về nước làm Khoa trưởng phân khoa giáo dục Đại học Vạn Hạnh.

Khối Sa-đi học chương trình kinh, luật, luận thấp hơn khối Tỳ-kheo một bậc, không đi sâu vào nghĩa lý khúc chiết, vi tế. Phần lớn Giáo thọ giảng dạy ở khối Tỳ-kheo xuống dạy khối này. Đặc biệt vị Giáo thọ trưởng cắt cử một số thầy của khối này dạy một số giờ ở khối Sa-di, và Điệu chúng như thầy Thuyền Ấn, thầy Đỗng Minh, Nguyên Hồng, Từ Hạnh… Việc học tập, thực hành, đi thực tế cũng giống như khối Tỳ-kheo nhưng mang tính chọn lọc nhiều hơn. Khối Sa-di thành đạt thế học hơn khối Tỳ-kheo, sau khi đỗ Tú tài Bán, hay Toàn, các Sa-di đảm nhận Hiệu trưởng, Giám học, Giám thị, Giáo sư bộ môn giáo lý, tự nhiên hay xã hội. Một số tiếp tục học Đại học thì vào Già Lam, hay trở về Báo Quốc. Về sau có vị vào Đại học Vạn Hạnh làm việc ở Tổng Vụ Giáo dục như Hải Thanh, Quảng Thành (Trưởng phòng SV vụ) Phước Sơn… sau đó Quảng Thành tu nghiệp nước ngoài. Phước Sơn trở thành nhà dịch thuật, nghiên cứu.

Khối hành Điệu: Phần lớn đậu Tiểu học hoặc trình độ lớp thất, lục…. Chương trình Phật học giống như chương trình Tiểu học nhị niên của THĐ trước đây. Ngoài thầy Đỗng Minh dạy luật, Duy thức… có một số thầy trong khối Tỳ kheo như thầy Đức Chơn, Thầy Châu Đức, thầy Nhật Lệ hay trong khối Sa-di như Giác Tuệ xuống dạy các kinh: Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo,Kinh Bát Đại Nhân Giác, chữ Hán, Nghi Lễ… Hầu hết các Điệu đều theo học chương trình Phổ thông bên trường Bồ-đề hay trường Võ Tánh… Con đường học vấn của lớp Điệu suôn sẻ hơn, về sau số tốt nghiệp đại học cũng nhiều hơn, khi trưởng thành phần lớn đưa đi dạy học hay đảm nhận điều hành trường Bồ-đề ở các địa phương. Đã có Học tăng khối này, về sau đậu Bác sĩ như Phạm Hữu Diệu, Hải Ấn, Đặng Hữu Ích, Dược sĩ như Phan Gia Du, kiến trúc như Lê Quang Đoàn… Nguyễn Văn Lộc du học. Vào mùa An cư chương trình học nặng nhọc gấp đôi. Các thầy đi hoằng pháp cũng quay về An cư tu dưỡng, đặt nặng sự tham khảo, trao đổi kinh nghiệm hoằng pháp…

Cuộc họp thống nhất Phật sự giữa Viện và hai chúng cư sĩ.
Chủ tọa ngài Phúc Hộ, thuyết trình ngài Giám viện.
Bàn chủ tọa (từ trái qua) ngài Thiện Siêu, ngài Phúc Hộ, ngài Trí Thủ, ngài Trí Hữu (Hương Sơn).
(Từ Album ảnh Hoàng Hải)

Bố-tát, An cư, Tự tứ… là các sinh hoạt vô cùng nghiêm mật của PHV. Dưới sự chủ trì của ngài Giám viện, sinh hoạt tu học trở thành nền nếp, quy cũ. m thanh thuyết giới của Ngài rất uy lực như gieo vào lòng học chúng sức sống trang nghiêm của giới. Khi tiếng chung, tiếng bảng, chuông trống Bát-nhã vang lên báo hiệu mùa An cư bắt đầu cũng là lúc chương trình tu học theo giờ giấc nghiêm túc thực hiện. Con đường vắt qua đồi Trại Thủy, nhịp bước của học chúng học ở trường Bồ-đề hay làm việc ở hãng vị trai, kể cả ngài Trí Nghiêm, thầy Chí Tín, thầy Đỗng Minh bên chùa Hội, như nhanh hơn một nhịp sang Viện để có khoảng thời gian nghỉ ngơi trước giờ quá đường…Ngoài ra hai chúng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà- di cũng được các thầy hướng dẫn tu tập Bát quan trai, dạy giáo lý theo lịch quy định. Phần ngọai hộ hai chúng phân công đảm trách theo chỉ dẫn của thầy Tri sự Thích Trừng San…

Hãng Vị trai lá Bồ-đề nằm cạnh trường Bồ-đề, có lẽ manh nha từ thời THĐ, nhưng phải đợi sau khi PHV hình thành, nhân duyên mới hội đủ. Thầy Đỗng Minh đi học một khóa chế biến với kỹ sư Lâm Văn Vãng ở Sài Gòn với quyết tâm tạo ra nguồn kinh tế tự túc cho Viện theo chủ trương của Ban Quản Trị. Thế là, Hãng nhanh chóng hình thành đi vào sản xuất khoảng 1957. Từ một cơ sở nhỏ trở thành cơ ngơi bề thế giàn rộng trên một diện tích trên hàng ngàn mét vuông. Thương hiệu “Vị Trai Thanh Khiết Nhãn Hiệu Lá Bồ-đề” nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, nhất là thị trường miền Trung và Tây nguyên. Về sau gầy thêm cơ xưởng sản xuất muối ăn, hương, đèn, xà phòng…Liên kết, chỉ đạo Hãng cùng nhãn hiệu ở chùa Giác Sanh, Sài Gòn, Từ Đàm, Huế. Được biết việc mua bất động sản để thành lập Tu Viện Quảng Hương Già Lam Gò Vấp là chủ trương của Ban Quản Trị. Theo chỉ đạo của ngài Giám viện, vào năm 1961, thầy Đỗng Minh lo liệu việc mua bất động sản tại Xóm Gà, Gò Vấp trong đó có xuất ra một số tịnh tài từ quỹ phúc lợi của Hãng Vị Trai.

HT Thích Giác Nguyên chùa Tây Thiên, Huế, TT. Thích Trí Thủ,
ngài Maha Thera Narada, ngài Pháp Tri… tham dự Lễ đặt đá xây dựng Kim Thân Phật Tổ
ại khu đồi Đông Trại Thủy năm 1964. (Album ảnh Hoàng Hải)

Một sự kiện đáng ghi nhớ là một đại hội Hoằng pháp tại PHV vào ba ngày 8,9,10 của tháng 7 năm 1961 (26,27,28/5/Tân Sửu) khoảng 100 đại biểu của nửa nước là quý Thượng Tọa, Đại đức, Tăng, Ni và một số Thiện trí thức của một vài thành phố Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài gòn, trong đó có nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba thuyết trình và biểu diễn âm nhạc Phật giáo.

Khi THĐ sát nhập, Ấn quán Hoa Sen trên đường Thống Nhất (Độc Lập cũ) là sở hữu của PHV. Giai đoạn đầu Minh Nghĩa, hai chú Chơn, Tỵ, thầy Đức Chơn quản lý. Phía sau là xưởng in, đằng trước phát hành kinh sách, pháp khí, tranh tượng Phật… Tuy nhiên, sự quản lý không tập trung, hết thầy này sang thầy khác, nên không phát triển trong kinh doanh… Sau đó, chuyển cho cư sĩ quản lý. Sau năm 1975 xảy ra tranh chấp, kiện cáo… Kết cục chủ quyền pháp lý vẫn thuộc về PHV dù có cho cư sĩ thuê mướn. Được biết lúc bấy giờ, ngài Trừng San đau yếu đã chỉ định ba thầy Phước An, Chánh Lạc và Minh Châu quản lý động sản và bất động sản của Phật Học Viện…

Hàng năm PHV đều tổ chức lễ kỷ niệm ngày thành lập vào Vía Phật Thành Đạo 8 tháng Chạp. Đệ nhất, đệ nhị, đệ tam chu niên tổ chức khá lớn, có trưng bày phòng triển lãm hình ảnh sinh hoạt, báo tường, tạp chí do khối Tỳ-kheo và Sa-di thực hiện, khối Điệu làm công việc dịch vụ, chấp lao, phục dịch… Về sau chỉ phát thanh kỷ niệm mà thôi. Việc trồng cây Bạch đàn, Phượng, Sứ, Xoài, Mít…đến mùa mưa đều thực hiện. Có khi ngài giám viện trực tiếp hướng dẫn Chúng trồng. Con đường từ Viện sang chùa Tỉnh hội trồng Bạch đàn và Phượng không biết bao nhiêu lần nhưng không mùa Hè này thì mùa Hè khác cũng chết khô. Nguồn nước máy không đủ dùng, nước đâu để tưới cây? Tuy nhiên, cây rừng trong đó có Cốc, Bằng lăng chịu nắng Hè rất tài tình, nhất định không chết, có mưa là có lộc, vào mùa cho hoa, hoa tím Bằng lăng trên đồi trông thật xinh. Nhìn hàng Sứ già, những cây Phượng lâu năm hiện vẫn cho hoa, CHT mới thấy hết quá khứ thánh thiện của mình, mới thấy hết ý nghĩa cao quý của lời chúc “Bách Niên Thọ Nhân”. Con đường này được CHT thuở ban đầu đặt tên là “Bình Minh”. Vào dịp đệ nhất chu niên, Bình Minh được mở rộng thêm, hằn sâu công lao của khối Sa-di mà tổng chỉ huy là thầy Thiện Châu không rời cặp kính cận dày cộm. Nhìn đoàn học Tăng nối nhau sang học các lớp ở trường Bồ-đề vào buổi sáng sớm mới thấy Bình Minh lên Phật Học Viện rất đẹp.

Cũng trong dịp lễ này, một tháp kỷ niệm bằng sắt cao 10 m, đỉnh tháp là hình chữ Vạn trên nền tròn hướng về thành phố Nha Trang, theo thiết kế của Sa- di Minh Nghĩa và thầy Giác Đức, kỹ sư Thưởng rễ cụ Võ Đình Dung chỉ đạo thợ thi công dựng tháp. Loa treo lên tháp cao, âm thanh kỷ niệm Lễ Thành Đạo ngày thành lập Viện vang vọng khắp một vùng rộng lớn … Bây giờ tháp sắt đã bị triệt hạ.

Đại lộ Hoàng Hôn là con đường nối thông từ Kim Thân Phật Tổ sang Viện nằm trên đỉnh đồi.

Công trình Kim Thân Phật Tổ do cựu tăng Thích Đức Minh (Tâm Lâm), bấy giờ là Chánh Đại Diện GHPGVNTNKH chủ xướng năm 1964. Chứng minh công trình là chư vị: Đại lão Tăng thống GHPGVNTN, HT Thích Tịnh Khiết, Đại lão Trú trì Tổ đình Thuyền Tôn Huế, HT Thích Giác Nhiên, Đại lão Trú trì chùa Tây Thiên, HT Thích Giác Nguyên, Huế, Ngài Maha Thera Narada, Tích Lan. Ngài Thích Giác Nguyên đặt đá xây dựng, tham dự có TT. Thích Trí Thủ, ngài Pháp Tri (Phó VTVHĐ) cùng một số vị Theravada, và đông đảo Phật tử. Thực hiện Kim thân Thế Tôn là nhà điêu khắc Phúc Điền ở Sài Gòn. Kim thân hoàn thành vào năm 1965, tượng cao 24 m (Bệ đài bát giác trên đài sen tròn cao 7m, Kim thân Thế tôn 17m) , trên đỉnh tôn trí hai viên Xá-lợi do chính phủ Tích Lan cúng dường, chung quanh đài tượng gắn phù điêu 7 vị Thánh tử đạo tự thiêu năm 1963 là các vị Bồ-tát: Quảng Đức, Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Tiêu Diêu, Quảng Hương, Thiện Mỹ, Diệu Hương (Ni), bên trong chạm nổi chư vị Bồ-tát, La-hán (Theo bia chùa Long Sơn)

Chủ công trình (Thầy Đức Minh) cho xe ủi rộng con đường. Từ đó Học tăng các lớp đàn em, sau giờ tiểu thực bách bộ sang Kim Thân thư giãn. Hoàng hôn thật đẹp trên con đường này, ngắm nhìn thành phố lên đèn, biển khơi lộng gió, chi chít ánh đèn điện trên tàu thuyền đánh bắt xa bờ như thắp sáng sức lao động của ngư dân trên mặt biển mênh mông. Đại lộ từ đó gọi tên là Hoàng Hôn,

Cụ Chơn Quang, Nguyễn Diệu vịnh:
….
Phía Đông Nam, người đua với cảnh
Mượn thiên nhiên, vẽ cảnh tô màu
Nguy nga Điệp các, Trùng lâu,
Sông Cù uốn khúc, nhịp cầu bắc ngang
Tháp Chúa Ngọc, khói nhang nghi ngút (Tháp Bà)
Miếu Sinh Trung, cao vút bên đường

Di ảnh Thầy Thích Đức Minh,1915-2002. (Từ album ảnh Tịnh Bình )
Di ảnh Điêu khắc gia Phúc Điền (Bùi Văn Thêm), 1925-2000 (Chụp lại từ bài TCPĐ
của Phanxipăng KT số 757)

Hiện tại, một hồ chứa nước lớn chắn ngang “Đại lộ Hoàng Hôn”…

Thiện Đạo, Hải Mẫn, Nguyên Đức, Phước An và Phước Thắng (Từ album ảnh Phước Thắng)

Kể từ sau ngày thành lập, năm nào Viện cũng nhận học chúng, quá tải nhất là vào những năm 1960, 1961. Dự định mở chi nhánh PHV tại chùa Linh Sơn Đà Lạt của Ban Quản Trị, được sự đồng thuận của thầy Chánh Hội Trưởng Tỉnh Hội PG Tuyên Đức Thích Mãn Giác, trên 20 Điệu từ lớp đệ thất đến lớp đệ ngũ đưa lên đây. Đích thân ngài Giám viện đưa đoàn đi bằng phương tiện tàu lửa. Sa-di Lê Xuân Ký tức Đức Hạnh làm thị giả Ôn, vừa quản lý đoàn. Bấy giờ là sau khi thi tấn ích kỳ 1 niên học 1961-1962

Học Tăng của Viện trước chùa Linh Sơn (1961)

Theo tư liệu hình chụp trước chùa Linh Sơn từ album Nguyên Thanh thì từ trái sang: Hàng đầu ngoài ngài Giám viện và thầy Thích Mãn Giác đứng giữa, là: Nguyễn Chiến, Nguyễn Phi Hùng, Nguyễn Đẩu (Nguyên Thanh), Không Tánh (Phan Ngọc Ấn), Nguyên Hạnh (Lê Hậu), Trần Văn Mỹ. Hàng thứ hai: Thầy Thiện Phước, Phước An (Trần Hữu Cư), Phước Mỹ (Nguyễn Du), Hải Mẫn (Thẩm Văn Niên), Thật Tánh (Hồ Đắc Đổng), Lâm Văn Cảnh, Hồ Tấn Long, Hồ Ngọc Ẩn, Phước Hạnh (Nguyễn Văn Học), Phước Châu (Hoàng Ngọc), Văn Minh, Phước Thắng (Nguyễn Văn Tư), Nguyên Đức (Nguyễn Văn Lê) – (Trong ảnh thiếu Thiện Đạo (Nguyễn Lạc), Đào Duy Thị, Hoàng Thuận, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Sinh.) (Thầy Thiện Phước và Thật Tánh thuộc trú xứ LS)

Cuối năm học 1962-1963, Thầy Đức Chơn đưa Tịnh Bình, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Văn Lộc, Hồ Khắc Dũng (Nguyên Giác) , Nguyễn Như Sếnh lên và rút Thiện Đạo (Nguyễn Lạc) Lê Hậu, Hồ Văn Ẩn, Thẩm Văn Niên đã tốt nghiệp THĐNC về lại PHV.

Sau khi thầy Hội Trưởng Mãn Giác du học Nhật, thầy Minh Tuệ lên thay thế. Tăng sinh Lê Mạnh Thát từ Báo Quốc đưa vào, học triết học tại đại học Đà Lạt, sau tốt nghiệp, du học ở Mỹ. Sau Phật Đản 1963 vài tháng, thầy Đỗng Minh đích thân lên đưa một số lớn về lại Viện. PHVNT cùng với Tỉnh Hội PGKH giữ vai trò nòng cốt trong việc đấu tranh, xuống đường phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của nhà cầm quyền đương cục lúc bấy giờ . Huệ Nhật phát nguyện tự thiêu, hay tin này, xe cảnh sát rượt đuổi xe của Viện chở Huệ Nhật chạy trên đường phố Nha Trang. Tay lái Minh Nghĩa thật cừ khôi đưa xe về Viện an toàn, sau đó hủy bỏ việc tự thiêu.

Có một sự kiện đáng nhớ là vào năm 1964, ngài Giám viện nhận học giả Phạm Công Thiện xuất gia, đặt pháp danh Nguyên Tánh. Tại Thiền thất, Nguyên Tánh viết Tiểu luận Bồ-đề Đạt-ma đánh dấu bước đầu ngộ đạo của mình. Việc học giả xuất gia trở thành tiếng vang trong giới trí thức miền Nam lúc bấy giờ. Sau thời gian làm chủ biên tạp chí Tư Tưởng, khoa trưởng phân khoa Khoa học nhân văn Đại học Vạn Hạnh, thầy Nguyên Tánh tu nghiệp ở nước ngoài từ năm 1970.

Thư viện của Viện, ngoài bộ Đại Chánh Tân Tu, bộ Thái Hư Đại Sư, Bộ Phật Học Tùng San…còn rất nhiều kinh sách Phật Giáo, sách nghiên cứu, sách triết học, văn học, Từ điển các loại… Trong đó có một số khá lớn sách triết học, sách nghiên cứu bằng chữ Anh, Pháp của Phạm Công Thiện, chuyển từ Đà Lạt về. Nhưng so với phòng Y tế và phòng Phùng y (may vá) thì thủ thư không bận rộn bằng. Hai tiểu ban này bận rộn nhất trong các tiểu ban dịch vụ khác như: Quản lý nhà trù, thị giả, hương đăng, vệ sinh, chăm sóc cây cảnh v.v…

Tăng sinh cầu nguyện trước Ty Thông Tin Khánh Hòa năm 1963

Có thể coi hết năm 1963 là đợt cuối của khối Tỳ kheo và Sa-di rời Viện lên đường hoằng pháp khắp miền Trung và Tây Nguyên (sau năm 1963 nhu cầu  Phật  sự rất lớn) hoặc chuyển vào Già lam, hay ra Báo Quốc học Đại học. Khối Điệu bây giờ cũng đã thọ Sa-di, học nhị cấp thì ra Báo Quốc học Bồ-đề Hữu Ngạn hay trường Quốc Học, một số khác về lại chùa kế tục Thầy Tổ, làm giám học, giám thị, dạy giáo lý các trường Bồ đề, hay làm việc ở Hãng Vị Trai… Nói chung, đến năm 1963, Viện đã hoàn thành việc đào tạo hai khối Tỳ-kheo và Sa-di, đáp ứng được phần nào Phật sự ở miền Trung và Tây nguyên, đặt nền tảng học vấn cho khối Điệu tiếp tục học lên.

Sau năm 1963, Ban Quản Trị đề ra một số công việc để theo thời gian thực hiện, như:
– Thành lập Giảng sư đoàn
– Phiên dịch Pháp tạng
– Trước tác, thành lập nhà xuất bản
– Xây dựng dãy nhà Tăng trên khu đồi san ủi phía trên Thiền thất
– Xây một Tháp kỷ niệm các Thánh tử đạo
– Một Kim thân nhập diệt thờ trong tháp
– Một Niết-bàn thành (nghĩa trang) cho chư Tăng
– Một thư viện
– Một Tịnh thất cho 20 giảng sư có đủ phương tiện sinh hoạt, tĩnh dưỡng, lưu trú.
– Thành lập một viện Đại học Phật giáo tại Thị-xã Nha Trang.
(Rút từ Tập chùa Hải Đức PHVTPNT do đệ tử chùa HĐ biên soạn năm 1964)

3.2) Giai đoạn 1964-1976

Trong giai đoạn này có thể phân ra 3 giai đoạn 1964 – 1969, 1969 – 1974 và 11/1974 – 1976.

1964 – 1969: Sau khi thành lập GHPGVNTN vào năm 1964 thì hệ thống PHV toàn miền Nam lên đến 22 cơ sở, dưới sự điều hành thống nhất của Tổng vụ Văn hóa giáo dục qua Phật Học Vụ. Việc trao đổi Tăng giữa các PHV là cần thiết, bởi lẽ giúp cho Tăng sinh mở rộng tầm nhìn trong việc tu học, tìm hiểu phong tục tập quán vùng miền, tạo ra mối quan hệ giữa Tăng với Tăng, giữa Tăng với quần chúng Phật tử mọi vùng một cách hài hòa nhằm tăng ích vai trò Sứ giả Như lai sau khi tốt nghiệp lên đường hoằng dương Chánh pháp. Trong lời Phi lộ Luật Bí-sô tập I, thầy Đỗng Minh viết như vầy: “Đến năm 1968, Viện Hóa Đạo ra quyết định tôi làm Vụ trưởng Vụ Phật học, tôi phải đi lại 22 PHV Sơ, Trung và Cao  đẳng từ Bến  Hải đến Cà Mau. Tôi thường xuyên làm việc với Tổng vụ Trưởng giáo dục, Hòa thượng Thích Minh Châu để hoàn thành tốt phần việc của mình”. Một lần nữa cho thấy lý tưởng của thầy Đỗng Minh đối với Đạo, đối với PHV là kiên trung, trách nhiệm vô cùng.

Tăng sinh tại PHVNT lúc bấy đủ giọng nói vùng miền, tổng số lên trên cả trăm, chia ra hai khối Sa-di và Điệu, sắp lớp xen kẽ nhau theo năng lực học vấn. Chương trình học như trên đã đề cập. Tùy theo cấp học Phật pháp và Thế pháp mà năm nào cũng có Học tăng chuyển ra BQ học nhị cấp. Sau khi đỗ Tú tài II, tùy theo lựa chọn, hoặc ở BQ hoặc vào Già lam học tiếp Đại học đều được. Già lam trở thành nơi quy tụ học Tăng khắp các PHV, nghĩa là các Tăng tốt nghiệp Tú tài II, học đại học Quốc gia hay đại học Vạn Hạnh. Phân khoa Phật học ĐHVH tạo điều kiện cho mọi sinh viên vào học. Chương trình học e còn nặng hơn Văn khoa. Khoa trưởng là TT. Thích Trí Tịnh, các Thầy Minh Châu, Quảng Độ, Mãn Giác, Tuệ Sỹ, Nguyễn Đăng Thục, Lê Tôn Nghiêm, Ngô Trọng Anh,Tôn Thất Thiện, Trần Ngọc Ninh, Trần Trọng San, Khưu Thị Huệ, Doãn Quốc Sĩ, Văn Đình Hy v.v… dạy Pali, Tông phái Phật Giáo, Tiểu và Đại thừa Phật Giáo, Triết Đông, Thiền học VN, Triết  Tây,  chữ  Hán, Bạch thoại, Văn học VN , Văn học Lý Trần, Thiền Học, Xã hội học…

Chức sắc, Cựu, Tân Tỳ kheo, Bồ-tát tại gia Giới Đàn 1968, chụp hình lưu niệm dưới Kim Thân Thế Tôn
(Ảnh từ album Phước Thắng)

Trong thời gian còn học tập, Viện chỉ cho Học tăng thọ giới Sa-di phương trượng. Cho nên Giới Đàn sau cách Giới Đàn trước đến 12 năm (1956-1968). Giới Đàn, Viện tổ chức năm 1968 là để cho các Sa-di “thâm niên công vụ” của Viện thọ giới Cụ túc. Nhưng vẫn có một số thâm niên “bỏ quên” cơ hội trọng đại trong sự nghiệp tu hành của mình vì mải mê với Cao học và Tiến sĩ.

Nói chung giai đoạn này là giai đoạn hoàn chỉnh, khuyến khích học lên cao, trước mắt là vào đại học đạo, đời. Tăng nào rớt Tú tài nhiều lần là phải rời Viện nhận phân công Phật sự ở địa phương nào tùy ý lựa chọn. Lớp Trung đẳng PH hình thành trong giai đoạn này.

1969-1974: Song song với lớp học hai chương trình Phật học và Thế học (Trung học đệ nhị cấp) Viện chính thức mở một Lớp Trung đẳng chuyên khoa tinh học nội điển, tức Kinh, Luật, Luận, Nhân minh, Duy thức, Thiền học, Cổ ngữ nhất là Hán văn, chương trình có học Văn học, Sinh ngữ, Văn học Phật giáo v.v… Vụ Phật Học soạn thảo chương trình này.

Như vậy chủ trương mở Trung đẳng chuyên khoa mang tính sàng lọc, Tăng sinh đi thẳng vào kho tàng Phật Pháp. Sau 7 năm học tập, 25 trên 40 học Tăng tốt nghiệp. Theo quyết định số 202-TVT/GD/QĐ ký ngày 27-5-1974 của Tổng vụ trường VHGDPG Tỳ kheo Thích Minh Châu, số Tăng Ni sinh tốt nghiệp (Khóa thi từ 15-21/7/1974) gồm có:
Phan Thị Bé (Huệ Hiền), Võ Văn Can (Đức Nghi), Lê Xuân Cảnh (Thành Không), Nguyễn Xuân Cảnh (Đức Liên), Nguyễn Sĩ Dật (Hồng Siêu), Nguyễn Văn Hòa (Thiện Trí), Dương Minh Hồng (Trí Viên), Lê Hiền (Phước Viên), Lê Văn Hợi (Thiện Vinh), Nguyễn Văn Kiệt (Minh Thông), Võ Thị Lê (Huệ Như), Nguyễn Tường Linh (Giác Viên), Đặng Năm (Đức Từ), Võ Thanh Nhàn (Chí Lạc), Lương Trung Nghĩa (Thông Nghĩa), Võ Văn Nghề (Công Thành), Nguyễn Thị Ngươn (Như Tâm), Nguyễn Ngọc Quang (Chánh Lạc), Châu Tân (Tánh Như), Phạm Toàn (Giải Chính), Phạm Văn Tòng (Tín Niệm), Nguyễn Xuân Thu (Quảng Ba), Lê Tư Vũ (Bảo Quang), Trần Vui (Chơn Trí), Nguyễn Văn Xuân (Tâm Đài) [2].

Tháng 11 năm 1973 mở Giới đàn thứ ba lấy tên là “Giới đàn Phước Huệ”. Ngoài giới tử của Viện, giới tử khắp các tỉnh về thọ giới rất đông. (Xem PHVTPHĐNT do Ban phiên dịch Pháp tạng PGVN biên soạn xb 2009).

Ngài Phúc Hộ, Ban Quản Trị và Tăng chúng PHV Hải Đức Mùa an cư năm 1969 – Pl. 2514

11/ 1974 – 1976: Quyết định nâng PHVHĐNT lên thành cấp đại học PG là từ Vụ Phật Học. Tổng vụ VHGDPG ra quyết định mở “Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang”, cạnh đó vẫn duy trì lớp học hai chương trình. Sinh viên của Viện là Học tăng được sàng lọc qua nhiều khóa từ sau năm 1963 đến 1974, nhất là từ lớp Trung đẳng chuyên khoa đã tốt nghiệp, kể cả học Tăng đạt tiêu chuẩn ở các PHV khác trong nước. Tất nhiên, đầu ra là đáp ứng Tăng tài cho hạ tầng cơ sở Phật giáo khắp cả nước, hỗ trợ, tiếp nối các lớp bậc thầy, đàn anh tiên phong nay đã già yếu. Mặt khác, tạo ra một Ban Phiên dịch theo tiêu chuẩn “Tám đủ” [3] (Bát bị) của đại sư Ngạn Tông (557-610, đời Văn Tuyên Đế, Bắc Tề) để dịch Tam tạng Thánh điển, tập thành Tam Tạng giáo điển Việt Nam, đây là mục tiêu chính. Nhìn vào thành phần điều hành và chương trình đào tạo [4] thì thấy rõ điều đó. Như vậy, PHVHĐNT chánh thức thay đổi danh xưng thành VCĐPHHĐNT vào ngày 28 tháng 11 năm 1974, là đỉnh cao phát triển của Viện, với Ban điều hành:
– Viện trưởng: Thượng toạ Thích Thiện Siêu
– Phó Viện trưởng: Thượng tọa Thích Đỗng Minh kiêm Trưởng ban kinh tế.
–  Tổng Thư ký: Thượng tọa Thích Thiện Bình
– Học vụ kiêm Thư ký: Đại đức Thích Tuệ Sỹ;
– 
Trị sự: Thượng Tọa Thích Trừng San
– Quản chúng: Đại đức Phước Châu
– Thủ thư, phụ tá học vụ: Đại đức Phước An

Hội đồng giảng dạy: Ngoài các vị điều hành Viện, mời các ngài: TT Thích Trí Nghiêm, TT Thích Viên Giác, các giáo sư: Nguyên Hồng, Cao Hữu Đính, Lê Mạnh Thát, Doãn Quốc Sĩ, Võ Hồng v.v…Dự kiến mời các giáo sư thỉnh giảng ở các trường đại học như: TT Thích Minh Châu, TT Thích Quảng Độ, TT.Thích Mãn Giác, Gs Nguyễn Đăng Thục, Gs Lê Tôn Nghiêm, Ngô Trọng Anh v.v… Qua một năm giảng dạy (trang bị máy móc đầy đủ phục vụ tốt giảng dạy, thầy Đỗng Minh ở Tinh thất bên chùa Hội có thể nghe được tiết dạy của giáo sư bên Viện) một số sinh viên đã bắt đầu dịch thuật, viết Tiểu luận v.v…

Tăng, Ni sinh của Viện cao đẳng gồm có:Tăng sinh: Minh Thông, Trí Viên, Minh Châu, Nhuận Thông, Thiện Vinh, Nguyên Quang, Giác Viên, Viên Thành, Đồng Hạnh, Quảng Trừ, Đức Nghi, Chơn Trí (Nguyên Siêu), Chí Lạc, Huệ Đạt, Thông Nghĩa, Công Thành, Huệ An, Chánh Lạc, Phước Quảng, Vạn Đức, Bửu Sơn, Thông Chánh (Bảo Quang), Thông Định, Giải Chính, Phước Viên, Quảng Ba, Đức Từ, Hạnh Quang (Hồng Siêu), Tín Niệm, Thị Tâm (Cảnh), Nhuận Hải (Đức Liên), Đồng Chánh, Đồng An, Huệ Thành, Thục Quán (Minh Chiếu), Như Giáo, Hùynh Xuân Ngọc, Trường Khánh.

Ni sinh: Huệ Như, Huệ Hiền, Như Tâm, Hạnh Mãn, Diệu Minh (Bình Định), Thông Thuận. Ngoài con số chính thức còn có con số Tăng, Ni và Cư sĩ dự thính. Tổng số lên đến 60 sinh viên.

Sau năm 1975, nhất là sau khi Quốc Hội quyết định đổi tên nước VNDCCH thành CHXHCNVN, VCĐPHHĐNT chấm dứt hoạt động, sau gần 20 năm (1956-1976). Đúc kết lại, xin thưa: Quý vị là hành giả Bồ- tát, là một số vị lãnh đạo Hành chánh, Giáo dục PG hiện tại, là Trụ trì, nguyên là Giảng sư, nguyên là Chánh Đại Diện, nguyên là Hiệu trưởng, Giám học, giám thị, giáo sư Bồ Đề, hay giáo viên nghỉ hưu khắp Trung, Cao nguyên Trung phần, một số tỉnh Miền Nam, và có thể ra ngoài Bắc, một số vị giáo sư hay cựu giáo sư Đại học, các Bác sĩ, Dược sĩ, Lương y, Kiến trúc, nhà dịch thuật… đang hành nghề hay đã nghỉ hưu, một số vị du học và hiện nay trở thành lãnh đạo Phật giáo Việt Nam hải ngoại, hay đang là Viện chủ, Trụ trì các Tòng lâm, Tự viện trang nghiêm huy hoàng…hướng dẫn kiều bào Phật tử tu học ở khắp Âu, Mỹ, Úc…, hoặc phó thường dân cùng hòa mình trong cuộc sống trần gian, không ít thì nhiều đều do PHVHĐNT đào tạo nên. Ân đức ấy, quý vị đã thể hiện một cách xứng đáng qua vai trò “Sứ giả Như Lai” của mình đối với kiếp sống trầm luân. Bởi vậy, PHVHĐNT rồi VCĐPHHĐNT trở thành di sản tinh thần của các lớp Cựu học tăng xuất thân từ chiếc nôi này. Điều lược ghi lại xin là nén hương, là vòng hoa tưởng niệm đặt lên di sản yêu kính của mình, nhân kỷ niệm Ngũ Thập Ngũ chu niên của Viện.

Vu Lan PL.2556, 8-2011

Sưu tầm tư liệu, Biên tập:
Thích Minh Thông cựu SV Cao đẳng, Giác Tuệ , Phước Thắng CHT

 

_______________________________

1. Xưởng đóng tàu về đời Tây Sơn đánh nhau với nhà Nguyễn Phúc, và thời kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cũng là chỗ chiến trường (theo ghi chú thơ của cư sĩ Chơn Quang Nguyễn Diệu)
2. Thầy T. Minh Thông cung cấp tư liệu này.
3. Thành tâm yêu pháp, chí nguyện lợi người, không ngại thời gian bao lâu. 2, Bước lên trường giác ngộ, trước hết giới bền chắc đầy đủ, không nhiễm thói xấu giễu cợt. 3, Gom hiểu ba tạng, nghĩa là
xuyên suốt hai thừa, không khổ sở, tối tăm, trì trệ. 4. Tìm đọc khắp sách sử cổ (phần sử), ra công kết nối điển từ, không quá vụng về, đần độn. 5, Giữ lòng bình đẳng, thứ tha, khí lượng bao dung như hư không, không thích chuyên chấp. 6, Mải mê với đạo thuật, hững hờ với danh lợi, không muốn đề cao khoe mình. 7, Cốt yếu phải biết ngôn ngữ Phạm, mới nhàn nhã chính dịch, không đắm chìm trong việc học đó. 8, Xem phớt qua Thương, Nhã, hiểu sơ Triện Lệ, không tối lọai chữ này.” (Dịch theo tóm lược của học giả Lương Khải Siêu. Tòan văn xem Tục Cao tăng truyện, truyện Ngạn Tông, hay LS Phiên dịch Hán Tạng của HT. TPS)
4. xem PHVTPHĐNT, Ban Phiên dịch Pháp tạng biên soạn

Leave a Reply