LỜI GIỚI THIỆU của SEN TRẮNG: Bài viết này không nhằm trình bày Kinh Duy Ma Cật theo hình thức chú giải kinh điển hay khảo luận học thuật. Đây là một tùy bút chiêm nghiệm, ghi lại những rung động nội tâm và suy tư cá nhân khi tiếp xúc với tinh thần Đại thừa được biểu hiện qua hình ảnh Duy Ma Cật – Phẩm Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Những đối thoại, hình ảnh, biểu tượng và nghịch ngôn trong bài được tiếp nhận như phương tiện gợi mở, không nhằm xác lập lập trường giáo nghĩa hay phân định hơn – kém giữa các thừa, mà để soi chiếu lại chính đời sống tu học giữa thế gian nhiều nhiễu động. Vì vậy, một số cách diễn đạt mang tính ẩn dụ, cảm xúc và trực giác, cần được đọc bằng tâm quán chiếu hơn là bằng lối hiểu chữ nghĩa thuần túy.
Bấy giờ, người đọc được mời bước vào bài viết với tâm thế lắng nghe, chiêm nghiệm và tự đối thoại, để từ đó tìm thấy cho mình một lối đi phù hợp trong hành trình tu học và phụng sự, đúng như tinh thần “bất nhị” và “phương tiện thiện xảo” của Phật giáo Đại thừa.
Duy Ma Cật – Phẩm Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Nhật Lực Lê Khắc Long – H.Tr GĐPT Pháp Vân, Pomona
Sáng tại Pháp Vân Tự, trời tháng Giêng lạnh, xôn xao những công việc chuẩn bị Tết cổ truyền. Sau những Nhật Lực loay hoay với trách nhiệm thường nhật để mưu sinh cuộc sống, phần còn lại loanh quanh lẩn quẩn ở sân chùa tập hát lời Phật bảo, chuẩn bị cho những lễ hội sắp tới; có những lúc ngồi ôm dĩ vãng, ân hận với những lời lẽ khô cằn thời non trẻ xuôi dòng theo quy luật của sân si. Giờ đây lừa lọc để nói lời yêu thương, chân thật chân tình, nhổ sạch cội nguồn duyên khởi của tham ái để tình thương bi mẫn khởi sắc khoe khoang, bởi không có tình thương thì lời lẽ khó nghe là điều khó tránh được.
Trước đây những lời ca là cơn đau tình ái, là nỗi buồn khi phải xa nhau, là cách biệt chia ly, là tay cầm tay nói lời ly biệt từ lúc đưa tiễn, là nghìn trùng xa nhau, chỉ nỗi nhớ thôi sông cũng cạn, đá cũng mòn. Nếu phải tiễn đưa, trong ta chỉ còn bão tố… điều xoáy vào bát khổ. Thế gian giờ đây, những ca khúc lại hướng về triết lý nhân sinh Pháp Phật mặc dù chưa một lần qua trường Đạo, nhưng trường đời thì rõ từng con đường ngõ hẻm.
Mỗi lần on Facebook
Thấy đạo lý lan tràn
Ly hôn dạy chung thủy
Buông lung dạy lạy quỳ
Người trẻ nói triết Phật
Như sáo rỗng vô thần
Bao nhiêu lời tư vấn
Chỉ rỗng tếch mà thôi
Chưa niếm vị mặn của muối biển mà diễn đạt rốt ráo là thiên tài của lý thuyết và phải thẩm thấu… Nhật Lực chợt nghĩ đến cuốn Huyền thoại Duy Ma Cật thì không thể dùng ngôn ngữ chưa trau chuốt để luận bàn; có khi vô ngôn mà ý nghĩa thâm sâu. Qua đó Nhật Lực đã học được những bài học giá trị, một đời cũng không xong, không như những nhạc sĩ trẻ bây giờ sáng tác nhạc nhạc nhẽo, thích gì nói đó, không có sự ẩn dụ.
Nếu có phước duyên ngẫm thì Huyền thoại Duy Ma Cật dung chứa tinh hoa của thế giới Phật mà không hề dính bụi trần gian. Học Duy Ma Cật đưa tâm vào thế giới thanh tịnh của trí tuệ của chư Đại Bồ Tát, “thỏng tay vào chợ”, đời vẫn thong dong tùy niệm của các chư Phật để làm hành trang cho tự thân, xây dựng đời sống vẫn an vui giữa Ta Bà thế gian.
Từ Pháp hội vườn xoài cho chúng ta phát khởi chí hướng, nhìn rõ những hình ảnh tượng trưng của giới Phật Quốc để từ đó làm hành trang tư duy bước vào chiêm ngưỡng nghiệm rõ cõi Phật ở góc độ Đại thừa. Phật Quốc có những tiêu chí thích hợp cho mọi người có thể dễ dàng điều phục tâm; tùy theo quốc độ thích hợp mà ngộ nhập Phật trí; tùy theo Phật Quốc thích ứng mà mỗi người phát triển gốc rễ của Bồ Tát; và tùy theo thánh hạnh mà nhập cảm sinh.
Ở Tịnh Phật Quốc độ lấy bi và trí, nguyện và hành làm điểm nhấn để nhận rõ khổ đau và an lạc, để hiểu được mọi người; bởi vậy tùy theo xu hướng chúng sanh mà Bồ Tát đề ra hình ảnh Phật Quốc thích ứng. Thâm tâm là tâm sâu sắc; ở đây Bồ-đề tâm là chí nguyện đưa mọi người tới giải thoát cứu cánh, có ý nguyện dâng niềm vui cho người, nguyện bảo vệ cho mình và cho người, đem lại sự hòa bình cho mình và cho người; tinh tấn siêng năng, nhiếp tâm, tĩnh lặng; có trí tuệ hiểu biết; đầy đủ Tứ vô lượng tâm; tròn trách nhiệm với lục độ Ba-la-mật; thực thi Tứ nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự… Thấy rõ sự vận hành của 12 nhân duyên; Tứ Thánh đế thông suốt; Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trong đó có Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ-đề phần, Bát Thánh đạo phần; phát khởi và hành hoạt 4 đại nguyện… Nói rõ ràng hơn là Tịnh Phật Quốc độ phải có đầy đủ hành trang trên.
Kinh Duy Ma Cật có ý nghĩa thâm sâu, nhằm vận động từ bỏ đường lối của giới Thanh văn để đi theo đường lối của giới Bồ Tát. Phong trào Đại thừa là phong trào phát huy hình ảnh lý tưởng của một người Phật tử không cố chấp, rất cởi mở, và rất vị tha. Đó là hình ảnh của một vị Bồ Tát, biểu dương tư tưởng Đại thừa. Khi đối đáp thường nghe một bên dùng ngôn ngữ của sự thật, một bên dùng ngôn ngữ của hiện tượng.
Từ việc hiện thân bệnh nói lên con đường tu tập, vận dụng phương tiện, lấy những việc đời sống hằng ngày mà nói Pháp; hội kiến các Thanh văn với những hiện tượng phản diện qua việc Duy Ma Cật và 10 đại đệ tử của Phật; và việc biểu tượng ẩn dụ và ngôn ngữ trong việc Văn Thù Sư Lợi thăm bệnh. Duy Ma Cật đạt được Vô sinh Pháp nhẫn, tu chứng các Pháp môn thần lực vô úy, thông đạt các phương tiện, lòng rộng như biển cả, gìn giữ oai nghi của Bụt và hành trì giới luật Bồ Tát nên biết cách điều trị. Duy Ma Cật là một thị hiện, có nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Đại thừa. Ông không phải là một cư sĩ thường tình có nhiều kiến thức về Đại thừa; ngôn từ của ông không phải một cư sĩ mà nói lên được. Ở đây các đại đệ tử của Phật tượng trưng cho tư tưởng Tiểu thừa.
Hành trang giác ngộ thấy được các thể loại tâm Bồ-đề và cả một quá trình tích lũy những phiền não phải xuyên qua, nhưng nhận thức phải áp dụng chủng tánh Như Lai, nhân cách của từ bi và trí tuệ sáng suốt. Văn Thù Sư Lợi tượng trưng cho trí tuệ trong mỗi người. Ngài tượng trưng cho trí tuệ của từ bi hỷ xả, sâu sắc, chí nguyện đưa mọi người tới giải thoát cứu cánh.
Duy Ma Cật là một người chú ý nhiều đến sự quán chiếu về tâm. Nếu mình không biết tâm người thì mình không thể nào giúp người được; nhìn sâu để thấy rõ được tâm của từng người, nhờ thấy rõ mới dùng được những phương tiện thích hợp để giúp người. Nhưng trước tiên hành động của mình chín chắn, giữ giới luật và uy nghi. Vì muốn độ người nên Duy Ma Cật dùng phương tiện khéo léo thị hiện làm thân trưởng giả, có của cải nhiều vô lượng để nhiếp độ người tùy căn cơ.
Trong kinh có đoạn: “Giữ giới thanh tịnh để có thể nhiếp độ cho những kẻ phá giới, hóa độ cho những người phạm giới đang sống quanh mình, thì chính mình phải giữ giới cho thanh tịnh. Thực tập hạnh nhẫn nhục để nhiếp độ những người hay giận dữ. Sống một cách tinh cần để nhiếp độ những người lười biếng. Thực tập sự vắng lặng của thiền định để nhiếp độ cho những kẻ tâm ý tán loạn. Thực tập trí tuệ để giúp những kẻ không có trí tuệ. Tuy là người cư sĩ áo trắng mà giữ gìn phạm hạnh của một vị sa môn. Tuy ở tại trong gia đình mà không đắm nhiễm vào trong những trầm luân của ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới…” Duy Ma Cật có thể hiện ra nhiều sắc thân để độ cho chúng sinh đang chìm đắm, mê mờ.
Phẩm Văn Thù Sư Lợi của Kinh Duy Ma Cật chứa đựng những bài học quan trọng về những xung đột nội tâm vì xã hội phức tạp; ngôn ngữ nhiều lúc không diễn tả được những ý tưởng ngược; hàng đại trí của thế gian có thể biểu hiện bằng sự im lặng mà phải bằng hành động thiết thực trong cuộc sống hằng ngày.
Qua hành động các đại Thanh văn từ chối đi thăm bệnh chỉ vì không đương nổi biện tài của Duy Ma Cật, có thể các đại Thanh văn sợ cái bệnh lắm lời của thế gian: chê bai, thị phi, nói xấu, nói lời hai lưỡi, nói đâm thọc… và cuối cùng Văn Thù Sư Lợi chấp nhận đi thăm bệnh vì tâm trạng nghĩ đến một cư sĩ nhưng đã chứng thật tướng và hiểu rõ thật tướng; như một Bồ Tát nhưng đó là vị Bồ Tát hiện thân. Bồ Tát không nhập thật tướng thì không thể thuyết thật tướng.
Bài học thứ 2 quan trọng về Duy Ma Cật là biểu tượng ẩn dụ của nghệ thuật về sân khấu cuộc đời, chiêm nghiệm và diễn đạt. Trong những chương trước, Duy Ma Cật đi từ ngôn ngữ thường tình, kinh nghiệm trong thường nhật rồi đi đến nhận thức mong manh của thân tứ đại, lấy phương tiện hiện thân bệnh để nói đến một thân không bệnh tật; ẩn ý của bậc xuất thế gian như Phật thân sẽ không còn bệnh. Pháp thân của Phật được tạo ra bằng những chất liệu khác với nhục thân; không phải là tứ đại, không phải là bọt bèo mà là trí tuệ, giải thoát, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, v.v… Pháp thân là như vậy và mình phải đi tìm Pháp thân.
Bài học thứ 3 quan trọng về Duy Ma Cật về ái ngữ thể hiện khi Trưởng giả Duy Ma Cật bị bệnh và ông nghĩ đến Xá Lợi Phất tìm nguồn an ủi. Vì là bệnh thật của một người thật nên ông cần nguồn an ủi thật, lời lẽ cũng chân thành. Xá Lợi Phất không nói Pháp tướng mà nói lời ái ngữ củng cố niềm tin trên đời sống thanh tịnh của Trưởng giả. Sau đó bệnh vẫn không thuyên giảm nhưng tâm ông hoan hỷ an lạc, sự ràng buộc là quan trọng. Bồ Tát hành Tứ nhiếp, khi có người bệnh tật, đi thăm viếng, khích lệ, nâng đỡ tinh thần thì ưu phiền cũng vơi đi. Giả bệnh là phương pháp tu thân, quán thật tướng của thân mình. Kinh Niệm Xứ cũng đã dạy về quán thân: thân là vô thường, không bền chắc; kinh chỉ đề cập đến năm điều: vô thường, khổ, không, vô ngã, và Niết-bàn.
Bài học thứ 4 quan trọng về Duy Ma Cật là diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ thâm thúy của ẩn dụ, của biểu tượng để diễn giải sự việc, để nói về một sự kiện chuyển tải người cảm nhận rộng lớn, cô đọng cốt lõi của trống không; không dính vào vắng lặng, không dính vào hình tướng nhưng thị hiện đúng hoàn cảnh, khi Đại trí Văn Thù Sư Lợi khám phá cảnh giới tịch mặc vô ngôn trong căn nhà trống của Duy Ma Cật.
Xá Lợi Phất khi mới bước vào căn nhà trống thì hỏi chỗ ngồi. Cõi Phật trống không, tịnh thất của Bồ Tát Duy Ma Cật cũng trống không, nhằm khai thị đạo lý: “Hành thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Tự độ phải tìm thấy “cái không ngay trong cái có”. Được nhìn qua tuệ nhãn “không”. Đó là vở kịch không lời mà vạn lời muốn nói khi tự thân chiêm nghiệm. Hành vi Duy Ma Cật tiếp Văn Thù Sư Lợi là căn nhà trống không. Không ở đây là rỗng, rỗng của ý niệm phàm thế gian: tham sân si mạn nghi tà kiến… mà đầy ắp trí tuệ từ bi hỷ xả. Không thể đem tâm thức thế gian hiểu được Duy Ma Cật.
Bài học thứ 5 quan trọng về Duy Ma Cật là chuyển đổi cách suy nghĩ về tâm: những khó khăn đến hãy suy nghĩ ngược lại, không buồn phiền mà đó là cách rèn luyện chúng ta dũng mạnh hơn. Khi thân bệnh tật thì nghĩ đến người khác, mong cầu mọi người không bệnh khổ, hoặc phát đại nguyện muốn trở thành một người có ích để chữa trị cho mọi người.
Bài học thứ 6 quan trọng về Duy Ma Cật là tự điều phục bằng cách chế ngự tâm tham muốn phàm phu; bệnh phát triển do không điều hòa của thân tứ đại; nhận thức về dòng sinh diệt của Pháp; nhận thức ý nghĩa của tự ngã; quan sát diệt trừ phiền não ngũ uẩn; bỏ cái tôi nguồn gốc của vọng tưởng.
Bài học thứ 7 quan trọng về Duy Ma Cật là tâm đại bi khởi lên khi thấy chúng sanh khổ; tâm phải suy diễn từ nỗi khổ của mình, ngay trên thân mình mà chứng nghiệm. Do tâm đại bi rung động khi chúng sanh nằm trong ba cõi khổ bởi nhận rõ bản chất hư ảo của thế gian.
Quan trọng về Duy Ma Cật là điều phục tâm bằng trú xứ vô trụ: không trụ ở cảnh giới bất sinh bất diệt, không trụ đến chuyện sinh tử, không trụ phiền não, không trụ dòng xoáy luân hồi, tức là không còn tạo nghiệp, chỉ trụ theo tâm trạng đại bi. Hiện thân trong 3 cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới điều hướng mỗi người đến bờ an vui, hoặc Thanh văn, Duyên giác… quán sát trong mỗi sát-na sẽ vĩnh viễn chiến thắng bệnh tật, khổ đau.

Duy Ma Cật và các đại đệ tử của Phật dùng phương tiện đưa ra để so sánh tư tưởng của Đại thừa và Tiểu thừa. Mọi đề tài vấn đáp đều nằm trong lĩnh vực tu học và hành trì… Cũng một sự việc, trần gian thấy đẹp, sinh tâm say đắm rồi xoay chiều theo thập nhị nhân duyên; chư Thánh Hiền thấy nó bất an, bất tịnh nên muốn thoát ly ra khỏi.
Bước vào căn phòng trống không, Xá Lợi Phất có ý nghĩ các vị thần ngồi ở đâu; nhưng khi tưởng tượng 32 nghìn chiếc ghế vận chuyển từ thế giới Tu Di Tướng, xa từ dãy ngân hà vũ trụ đến bố trí trong một căn phòng. Ẩn dụ tâm rộng lớn cả vũ trụ thì chứa bao nhiêu cũng được mặc dù căn phòng nhỏ. Tưởng tượng nếu sân khấu gom nhỏ, nghệ sĩ đạt được thượng thừa vai diễn, một tiếng thở dài của thế gian cũng đau lòng người. Duy Ma Cật đưa ra một quá trình biến đổi tư duy, một sự kiện hai cách nhìn xa thẳm giữa Bồ Tát và người thế gian.
Những cõi nước của các đức Phật đều là không, đâu phải chỉ có căn phòng của tôi mới là trống? Phải trang nghiêm cõi nước mình bằng không; nếu không có cái không thì sẽ không có gì hết. Không là bản chất của tất cả; không ở đây là trống vắng những bản chất liệu nội tâm thế gian mà đầy đủ hạnh nguyện của chư Thiên; đó là bản chất của không và tính cách bất nhị giữa Bồ-đề và phiền não.
Theo Duy Ma Cật trả lời rằng chân lý về không là phải tìm ngay trong sáu mươi hai tà thuyết. Chính ở trong những tà thuyết đó ta mới tìm được những cái không phải là tà. Nghĩa là nếu mình có thể quán chiếu sáu mươi hai tà thuyết đó và vượt thoát được, thì mình thể nhập được vào tính không.
Qua kinh Duy Ma Cật phát tâm Vô thượng Bồ-đề, chúng ta học được những vị Thánh đi theo Phật, không theo con đường ngũ dục. Hạnh phúc đời thường là có đầy đủ vật chất, nhưng nếu thân cận những người không cùng chí hướng tâm thối chí, tinh tấn tu tập bị lãng quên, cho nên chọn bạn đạo cùng chí hướng con đường Pháp lạc, tức là tìm cái vui của Chánh Pháp, hạnh phúc theo Chánh Pháp.
Bạn đạo là những người: “Tin Phật là một niềm vui, đi nghe pháp thoại là một niềm vui, được cúng dường Tam Bảo, cùng nhau nghe pháp thoại là một niềm vui. Buông bỏ năm đối tượng dục lạc là một niềm vui, thấy được sự nguy hiểm của năm uẩn của mình là một niềm vui, làm cho chúng sinh được lợi ích là một niềm vui, nghe theo và cúng dường các bậc sư trưởng là một niềm vui, vun trồng các cội lành là một niềm vui, thực tập chánh niệm, thiền định là một niềm vui, đoạn trừ phiền não là một niềm vui, v.v…” được làm bằng chất liệu từ, bi, hỷ, xả, lục độ Ba-la-mật, Tứ nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành, và đồng sự. Khi thực tập bố thí Pháp bằng sự thực hành của chúng ta, và thực hành trong môi trường của tất cả chúng sinh, thì đúng là ta đang thực tập bố thí. Lấy “Trì giới là đạo tràng, nhẫn nhục là đạo tràng, tinh tấn là đạo tràng, thiền định là đạo tràng, trí tuệ là đạo tràng, từ là đạo tràng, bi là đạo tràng, hỷ là đạo tràng, xả là đạo tràng, Tứ nhiếp pháp là đạo tràng, đa văn là đạo tràng, chánh quán phục tâm là đạo tràng, ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng, Tứ diệu đế là đạo tràng, đạo lý duyên khởi là đạo tràng.”
Lấy “Phiền não là đạo tràng, tu học ngay trong thế gian có phiền não, không xa lánh phiền não. Chính nhờ có phiền não trong tâm và chung quanh mới thực tập chánh niệm để làm hành trang an vui. Khi “vọng niệm đến là Ma Vương hiện ra. Nếu mình biết nó là vọng thì tự nhiên nó tan biến đi. Khi nhìn với đôi mắt chánh niệm thì vọng tan biến lập tức. Đó là phương pháp rất mầu nhiệm ở trong đạo Phật.”
Bồ Tát sở dĩ bị bệnh là do có lòng thương. Vì mình thấy bệnh của chúng sinh là bệnh của mình, cho nên dù được an ổn trong tháp ngà, trong tăng thân, trong giới luật của mình, Bồ Tát cũng vẫn đau cái đau của chúng sinh. Bồ Tát phải bệnh thì mới xứng đáng là Bồ Tát. Bệnh đó là do lòng từ bi, do sự thông cảm và sự hiểu biết gây ra. Bệnh này là bệnh tự nguyện. Vì vậy mình mới hiểu được câu đại nguyện của Bồ Tát: “Chừng nào chúng sinh còn đau khổ thì Bồ Tát còn lăn lộn trong cõi sinh tử”. Nghĩa là Bồ Tát tự nguyện cùng bệnh với chúng sinh để đưa chúng sinh ra khỏi giai đoạn khó khăn, khổ đau.
Đó là lòng từ bi rộng lớn, phát xuất từ tình thương cộng với khả năng hiểu biết, đưa đến việc làm lợi lạc cho người. Vì thương chúng sanh nên đưa ra những liều thuốc chữa trị bằng cách tự quán chiếu: bệnh do phiền não vọng tưởng điên đảo, do chấp ngã pháp mà sanh. Có điên đảo thì có bệnh khổ. Muốn trừ khổ khởi niệm ly, ly tâm, ly tham ái, ly ngã, đoạn trừ chấp ngã, chấp Pháp, chấp thế gian.
Lòng từ bi cứu độ chúng sanh không được có lẫn tâm ái kiến. Nếu lòng đại bi mà có lẫn ái kiến thì việc độ sanh sẽ có lúc mỏi mệt nản lòng, thực hiện đúng chánh pháp, tự tại trong nhiệm vụ lợi tha. Nếu ràng buộc trong từ bi còn muốn đam mê, trụ chấp dù là đam mê trụ chấp thiền định, lục Ba-la-mật, Bồ-đề, Niết-bàn, Bồ Tát bị ràng buộc rồi… phải trụ ở tâm điều phục.
Lòng từ bi điều trị bệnh của chúng sanh cũng bắt đầu từ việc tận diệt vô minh và tham ái. Ái ở đây có nghĩa là bám víu vào, níu chặt lấy, khao khát những cái không đáng khao khát, những cái có thể làm cho mình khổ đau khao khát. Vì vậy mà những đau khổ phát sinh. Đó là bệnh. Trong mười hai nhân duyên, si hay vô minh là nhân duyên thường được kể đầu. Ái là nhân duyên đưa tới thủ, tức là dính vào. Ái thủ là bệnh chung của chúng sinh. Cách hay nhất là tu giới, tu định, tu tuệ.
Truyền bá đạo Pháp, giáo lý, người phát tâm Bồ Tát mang khát vọng tìm an vui giải thoát. Học đạo mang chí lớn. Muốn thành chí nguyện phải giải quyết được những việc mà người bình thường không giải quyết được. Còn tham sân si mạn nghi tà kiến ghét ganh… thì không thể thực thi Bồ Tát đạo.
Tự độ trước khi độ tha, tích lũy tu học phước đức. Sự kết hợp giữa Văn Thù và Duy Ma thể hiện sự thành tựu hài hòa tâm thanh tịnh và trí tuệ.
Tâm trí con người có xu hướng bám víu vào nỗi đau nhiều hơn là niềm vui. Vì sự chấp nhất của mình, vì sự vô minh trong tâm mình mà mình đau khổ. Cho nên tu tập trí tuệ là trừ chấp của mình, chuyển hóa nhận thức của mình, chứ không phải thù ghét những thứ chung quanh và cho chúng là nguyên do của những khổ đau của mình. Tu học để xả bỏ tâm phàm.
Qua kinh Duy Ma Cật chúng ta học thật bên trong: Duy Ma đã hình thành tư cách của một vị Đại Bồ Tát hóa thân trưởng giả hiện thân ở thế gian dùng đủ cách giáo hóa, chúng ta không thể dùng tâm lượng phàm phu biết được.
Duy Ma Cật là tu sĩ tại gia có trí tuệ và từ bi lớn, chúng ta học được gì giữa đời thường:
Có trí tuệ trước đã. Từ bi yêu thương tất cả mọi người, tâm phải bất nhiễm thế gian, phước trí đầy đủ. Khi có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ dễ cảm thông. Khi có tâm hỷ và tâm xả, chúng ta sẽ bớt được các tâm ganh tị, tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp. Cho đến khi nào Tứ vô lượng tâm tròn đầy, vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại.
Học tâm vị tha, độ lượng, biết tha thứ, biết cảm thông. Luôn giữ gìn tâm trí được tĩnh lặng, bình tĩnh, thản nhiên. Thấu cảm nỗi khổ đau của chúng sanh, đừng dính tâm chấp; đã chấp thì lời nói, ý nghĩ mới thoáng qua đều chấp; đem tâm chấp đến đâu thì vun bồi thêm cái ta kiêu căng ngã mạn, vun bồi thêm khoảng cách chia ly; phải tu bi hỷ xả.
Học trong từng lời nói nhẹ nhàng, trong từng ý niệm thanh tịnh. Tâm tịnh khi không còn thị phi, không còn phải quấy, không còn tranh chấp, không còn hơn thua, không còn tạo tội, không còn tạo nghiệp, không còn cố chấp…
Tâm thiện, khẩu thiện, ý thiện, tam nghiệp thanh tịnh. Tâm không chất chứa bất cứ hình ảnh của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường, hoàn toàn trống rỗng, tĩnh lặng; tâm người đó chính là tâm Phật.
Huynh Trưởng GĐPT là những vị Bồ Tát vào cuộc đời, là đóa sen trắng nở thơm ngát trên bùn, tâm nguyện và những thử thách phải vượt qua.
Đi vào áp dụng cho người Huynh trưởng phải chế ngự tâm phàm phu; thấy rõ bản chất của các Pháp, diệt trừ được gốc của khổ; khởi tâm đại bi, nhận được bản chất hư ảo của thế gian; trì giới là ý nguyện bảo vệ cho mình và cho người, ý nguyện đem lại sự hòa bình cho mình và cho người; nhẫn nhục; tinh tấn là sự siêng năng; bố thí, ái ngữ, lợi hành, và đồng sự; lục hòa; áp dụng Ba mươi bảy phẩm trợ đạo trong mọi hoàn cảnh.
Người Huynh trưởng phải thấy được thực tướng các pháp, không dính mắc chấp ngã vì những ý niệm, cuộc đời thị phi điên đảo, tranh chấp mà tâm không bị nhiễm ô như đóa sen vươn lên từ bùn nhơ mà không nhiễm mùi bùn… nhưng lại nhờ chất liệu đó gạn lọc để cho những đóa sen trắng tinh khôi.
Người Huynh trưởng phải làm với tâm Ba-la-mật, tức là thực thi đạo mà không thấy mình hành đạo; bố thí mà không thấy có người bố thí; làm việc lợi ích cho đời, cho người, nhưng với tâm rỗng, không phân biệt, không nhớ nghĩ, tính toán.
Hành động thực tiễn của Bồ Tát Duy Ma Cật với tâm đại từ đại bi, người Huynh trưởng tuy chưa nhập được rốt ráo của Duy Ma Cật nhưng đã làm được phần nào công hạnh của Bồ Tát, đem vui và cứu khổ cho đời trong việc thực thi mục đích và lý tưởng của GĐPT.
Truyền thừa Chánh Pháp là trách nhiệm mỗi người con Phật, nhưng vẫn phải qua tự độ, tùy thuận theo Pháp; quán sát để thanh tịnh bất nhiễm; người Huynh trưởng phải tích lũy tài sản bằng hành động Pháp thí vì người đời này và đời sau. Có như vậy 12 nhân duyên sẽ không có điểm khởi và dĩ nhiên không có kết.
Trong kinh Duy Ma Cật diễn tả được những điều xảy ra trong đời sống của thế giới chư Phật nhưng khi chứng nghiệm chân lý phải lấy tư tưởng Duy Ma Cật; Pháp của Phật không sinh không diệt giữa đại thiên thế giới qua vở kịch, với vô số cõi Phật hiện thân phủ xuống thế gian như cơn mưa Chánh Pháp từ bi ban bố cho chúng sanh hữu duyên chiêm ngộ và chứng quả.
Điều quan trọng là giới luật, là tấm hộ chiếu bước vào cửa Như Lai, học Như Lai, hành hạnh Như Lai bởi giới luật ly loạn, đời còn khổ đau:
Giới luật đó, ngăn ngừa thập ác
Diệt vô minh, sân hận si mê
Diệt điên đảo quên đường về
Hỷ nộ ái ố nguyện thề chẳng theo
Giới luật đó, đạo đức điểm khởi
Khiến tự thân, sống đẹp nhân từ
Giải thoát đau khổ ảo hư
Phát khởi căn thiện, trầm tư giảng bày
Giới luật như hải đăng vượt chấp
Thân tâm an, diệt hết u mê
Lục căn chạy loạn quên về
Nhờ trì giới luật nên chê hồng trần
Giới luật chỉ ngõ đường duy nhất
Gặp Như Lai, cảnh giới thanh nhàn
Thanh tịnh, cởi trói buộc ràng
Hào quang tỏa sáng, ngồi đài Pháp Hoa
Giới luật, con đường tắt tịch tịnh
Lặng sóng đời, tâm tịnh định kiên
Niết-bàn an lặng cõi tiên
Thánh Nhân ở mãi tình tiền bỏ quên…
Giới luật tạo viên thông hạnh nguyện
Trí huệ cao, hỷ xả không sầu
Cầu danh lợi, lắm bể dâu
Nguyên tắc nhân quả thấm sâu ái từ
Giới luật là người thầy quảng đại
Dạy ta khôn, từ tốn cung khiêm
Nghiệp khẩu, thân, ý, tỵ hiềm
Buông cho nhẹ gánh, nén kìm các căn
Giới luật là gia tài Pháp bảo
Tinh tấn thay, giới đức đồn xa
Kiên định giữa chốn Ta Bà
Vững tâm giữa chốn sơn hà thập phương
Giữ giới luật, tâm bất loạn nhiễu
Khi lâm chung lên thiên giới Di Đà
Lợi lạc trang trải gần xa
Người người tin tưởng ác ma kinh hồn
Muốn chánh pháp mãi dài phát triển
Giới luật nghiêm, hướng tới Phật đài
Thừa Như Lai, hành Như Lai
Thiết tha trì giới tương lai thanh bình.
Mãi viết bài, chiều ập xuống Pháp Vân Tự kéo theo chút lạnh của miền Nam California. Tôi thương miền Đông nước Mỹ đang phủ màu tuyết trắng xóa giữa giai đoạn kinh tế suy thoái, nhưng sau màn đêm nắng sẽ lên mà thôi. Ngày tàn buông dần qua mau, tôi ôm món quà bình an trở về tổ ấm với thân tâm rỗng rang vô ngã. Xin mỗi người thành tựu Chánh Pháp, tùy Pháp, sống chân chánh trong Chánh Pháp và hành trì đúng Chánh Pháp.
Nhật Lực Lê Khắc Long
