Thích Không Nhiên: Phật học viện trung phần Hải Đức – Nha Trang, những chặng đường phát triển

Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo diễn ra vào đầu thập niên 30 của thế kỷ 20, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu được các nhà lãnh đạo Phật giáo xác định là phải tập trung đào tạo tăng tài, nhằm xây dựng một hàng ngũ tăng già có đủ phẩm hạnh và năng lực để gánh vác những trọng trách phật sự do bối cảnh lịch sử – xã hội bấy giờ đặt ra. Như lời đức Pháp chủ Hội Sơn Môn Tăng Già Trung Việt khẳng định: “Đào tạo tăng tài là trước hết các phật sự!”

Chủ trương “đào tạo tăng tài” tức chú trọng đến vấn đề con người. Và con người ở đây chính là hàng ngũ Tăng bảo, một đối tượng có mối quan hệ trực tiếp đến sự tồn vong của Phật giáo – “Tăng bảo là hiện thân cụ thể cho tinh thần vô thượng của đạo Phật. Tăng bảo còn, Phật giáo còn; Tăng bảo bị suy đốn thì Phật giáo bại vong! Đó là một sự hiển nhiên mà lịch sử đã chứng minh một cách rõ ràng. Vì vậy, nơi nào có những hàng Tăng bảo có thực tài, thực đức thì nơi ấy Phật giáo được tồn tại một cách xứng đáng với danh nghĩa của nó[1].

Chính vì thế, kể từ khi Hội An Nam Phật học ra đời, trên khắp dãi miền trung, nhất là tại Huế, bên cạnh hệ thống Sơn Môn Học Đường do Hội Sơn Môn Tăng Già đảm trách đã hình thành nên hệ thống An Nam Phật Học Đường do các vị tân học khởi xướng. Các trường An Nam Phật Học tại Huế lúc đầu chỉ mở ở bậc tiểu học, về sau phát triển dần đến bậc trung học và cao đẳng, song song đào tạo cả hai chương trình Phật học và thế học, có sức thu hút mạnh mẽ đối với học tăng trên khắp mọi miền đất nước. Tiêu biểu nhất là Phật học đường Trúc Lâm, Phật học đường Tây Thiên, Phật học đường Báo Quốc và Cao đẳng Phật học đường Kim Sơn. Chính những ngôi trường này là cái nôi đã đào tạo ra những thế hệ tăng sĩ tài đức, mà về sau, kể từ thập niên 50 trở đi, đã trở thành những vị lãnh đạo nòng cốt của Phật giáo nước nhà, như Hoà thượng Thích Thiện Minh, Hoà thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Trí Quang, Hòa thượng Thích Minh Châu… Và chính Hoà thượng Thích Thiện Hòa – nguyên Phó Tăng thống GHPGVNTN, Hoà thượng Thích Thiện Hoa – nguyên Viện trưởng Viện Hoá Đạo GHPGVNTN, Hoà thượng Thích Trí Tịnh – đương kim Chủ tịch HĐTS GHPGVN…, cũng vốn xuất thân từ những ngôi trường này.

Phật Học Viện Trung phần Hải Đức – Nha Trang ra đời năm 1956 chính là một bước phát triển nối dài của những trung tâm đào tạo tăng tài ở Huế, và là một sự tiếp nối huy hoàng đường hướng giáo dục ấy trong một hoàn cảnh mới, vận hội mới.

TIỀN THÂN PHẬT HỌC VIỆN TRUNG PHẦN TẠI NHA TRANG

Hệ thống các Phật học đường tại miền Trung ra đời và hoạt động được một chặng đường khoảng chừng 20 năm, đến đầu thập niên 50, trong tình hình nước nhà gặp nhiều biến động, cuộc sống người dân gặp nhiều khốn khó, việc duy trì hoạt động của các Phật học đường do vậy cũng gặp phải những thử thách không nhỏ. Trước tình hình đó, lãnh đạo của hai tập đoàn Phật giáo tại miền Trung – Giáo Hội Tăng Già và Hội Phật giáo Trung Việt – đã họp bàn và đi đến quyết định:

– Cần phải hợp nhất các Phật học đường Trung phần về một mối, bao gồm cả hai hệ thống Phật học đường do Giáo Hội Tăng Già và Hội Phật giáo Trung Việt quản lý, trên cơ sở hình thành một Phật Học Viện Trung phần, một trung tâm đào tạo tăng tài có quy mô lớn, chung cho cả miền Trung và của cả nước.

– Cần phải chọn một địa điểm thích hợp để xây dựng Phật Học Viện. Địa điểm đó phải là nơi kết nối của cả miền Trung, miền Nam và cao nguyên Trung phần, thuận tiện cho việc thông tin liên lạc cũng như phân phối giảng sư đi các nơi sau khi đã đào tạo.

Theo đó, Nha Trang chính là địa điểm lý tưởng được hai Tổng trị sự chọn làm nơi xây dựng Phật Học Viện. Và chính lúc đó, vào năm 1956, Đại lão Hòa thượng Thích Phước Huệ, trú trì Tổ đình Hải Đức – Nha Trang đã phát tâm hiến cúng ngôi Tổ đình này và toàn bộ đất đai của chùa cho Giáo hội mở trung tâm đào tạo tăng tài. Phật Học Viện Trung phần tại Nha Trang chính thức ra đời từ đó. Lễ khánh thành và khai giảng khóa đầu tiên đã diễn ra đúng vào ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo, mồng Tám tháng Chạp năm Bính Thân (1956).

Về cơ bản, Phật Học Viện Trung phần Hải Đức – Nha Trang vốn thoát thai từ Phật Học Đường Báo Quốc (Huế) và Tăng Học Đường Nha Trang, hai ngôi trường thuộc hai hệ thống đào tạo tăng tài của Phật giáo lúc bấy giờ. Phật Học Đường Báo Quốc do Giáo hội Tăng già quản lý, trong khi đó, Tăng Học Đường Nha Trang (còn gọi là Phật học đường Nam phần Trung Việt) chính là hậu thân của Cao Đẳng Phật học đường Kim Sơn (Huế), thuộc hệ thống Phật học đường của Hội Phật giáo Trung Việt.

Đôi nét về chùa Hải Đức

Chùa tọa lạc trên núi Trại Thuỷ, còn gọi là đồi Thuỷ Xưởng, thuộc phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang.

Lúc đầu, chùa chỉ là một ngôi thảo am nhỏ thờ Phật, có tên là Duyên Sanh Tự, do Đại sư Đạt Khương Viên Giác sáng lập vào năm 1883 tại làng Phước Hải (thuộc trung tâm thành phố Nha Trang hiện nay) để làm nơi chuyên tu thiền định. Về sau, nhờ công đức giáo hoá của ngài, tín đồ tìm đến học đạo mỗi ngày một đông, dần dần ngôi thảo am Duyên Sanh đã trở thành “chùa hội” đối với quần chúng phật tử khắp nơi trong vùng. Từ đó, Đại sư Viên Giác quyết định đổi tên chùa thành Hải Đức Tự như hiện nay.

Sau khi Đại sư viên tịch, vào năm 1909, đệ tử của ngài là Hòa thượng Ngộ Tánh Phước Huệ, tổ khai sơn Tổ đình Hải Đức – Huế vào kế thế trú trì. Để tưởng nhớ ơn thầy, Hoà thượng Phước Huệ đã triệu tập toàn thể tông môn và tín đồ nhóm họp, quyết định đại trùng tu Tổ đình. Kể từ đó, Tổ đình Hải Đức – Nha Trang trở thành một ngôi phạm vũ uy nghi, một đại tòng lâm có quy củ, quy tụ hằng trăm tăng tín đồ từ khắp nơi đến tu học, được chính phủ Nam triều sắc ban biển hiệu “Sắc Tứ Hải Đức Tự”.

Năm 1939, vì tuổi cao sức yếu, một mình không thể đảm trách chu toàn phật sự cả hai nơi (Hải Đức Nha Trang và Hải Đức Huế), Hòa thượng Phước Huệ đã quyết định uỷ nhiệm đệ tử của mình là Thượng toạ Bích Không thay thế trú trì. Bấy giờ Nha Trang đã phát triển thành một đô thị sầm uất. Nhận thấy cảnh huyên náo chốn thị thành không phù hợp với sự sinh hoạt của thiền môn, Thượng tọa Bích Không liền xin ý kiến Hoà thượng Phước Huệ tìm nơi thích hợp để di dời chùa. Kết quả là chùa được di chuyển từ trung tâm thị xã Nha Trang lên tọa lạc trên đồi Trại Thuỷ như hiện nay. Quá trình di dời chùa được tiến hành từ đầu năm 1943, đến đầu năm 1945 mới hoàn thành.

Năm 1950, Hòa thượng Phước Huệ từ Huế vào, thấy cảnh chùa không ai trông coi, Thượng tọa Bích Không bấy giờ đã tham gia Mặt trận cứu quốc và thoát ly ra Bắc, Hòa thượng đã cho thành lập một Ban hộ tự để tạm thời chăm sóc công việc chùa.

Năm 1956, khi hay tin Thượng tọa Bích Không vừa viên tịch tại chùa Diệc, tỉnh Nghệ An, và trong thời điểm đó, khi biết hai Tổng trị sự Phật giáo Trung phần (Giáo Hội Tăng Già và Hội Phật giáo Trung Việt) đang có ý định thống nhất các Phật học đường tại miền Trung thành một tổ chức đào tạo tăng tài có quy mô lớn, và đang tìm kiếm địa điểm thích hợp tại Nha Trang để xây dựng Phật học viện, Hoà thượng Phước Huệ liền triệu tập toàn thể môn đồ và Ban hộ tự nhóm họp, nói rõ ý định hiến cúng chùa Hải Đức và các cơ sở liên hệ cho Phật giáo Trung phần để làm nơi đào tạo tăng tài.

Ngày 26 tháng 7 năm 1956 (nhằm ngày 19 tháng 6 năm Bính Thân), một phiên họp được diễn ra tại chùa Hải Đức – Nha Trang với sự tham dự của đại diện hai bên để bàn định các điều khoản giao ước hiến cúng chùa. Đại diện cho hai Tổng trị sự có Thượng tọa Thích Trí Thủ và Thượng tọa Thích Trí Quang, đại diện phía Tổ đình Hải Đức có Hoà thượng Thích Phước Huệ, Đại đức Thích Chánh Nhàn và các ông Nguyễn Diệu, Nguyễn Vinh, Nguyễn Huy, Phạm Ất thuộc Ban hộ tự. Sau khi bàn định, một văn bản thỏa thuận nguyện cúng chùa gồm 7 khoản được thành lập, hai bên đồng ký tên, có đại diện tỉnh trưởng tỉnh Khánh Hòa là ông Lê Bá Chẩn – Phó tỉnh trưởng chứng thực[2]. Thượng tọa Thích Trí Quang, Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Việt Nam Phật Học, thay mặt lãnh đạo hai Tổng trị sự đã có thư phúc đáp[3].

Ngay sau phiên họp đó, một Ban quản trị Phật Học Viện được thành lập, và hai Tổng trị sự quyết định chọn ngày 29 tháng 9 năm 1956 (nhằm ngày 22 tháng 8 năm Bính Thân) làm lễ nhập tự và tiếp quản chùa.

Về Phật học đường Báo Quốc và Tăng học đường Nha Trang

Phật học đường Báo Quốc chính thức được thành lập năm 1935, do Thượng tọa Thích Trí Độ làm Đốc giáo, đặt dưới quyền điều khiển của Hội An Nam Phật học. Lúc đầu, trường chỉ đào tạo ở hai cấp tiểu học và trung học. Về sau, Thượng tọa Trí Độ và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám có ý phát triển trường theo mô hình đại học Nalanda nên đã xây dựng chương trình đào tạo đủ cả 3 cấp, bao gồm cả chương trình Đại học. Đến năm 1943, trường được chuyển lên đóng tại chùa Kim Sơn ở Lựu Bảo, lấy tên là Cao Đẳng Phật Học Đường Kim Sơn. Sau khi đào tạo khoá đầu tiên tốt nghiệp, đến năm 1945, gặp lúc nạn đói hoành hành, vật giá đắt đỏ (tiền ăn của học tăng từ 5 đồng một tháng bỗng nhiên vọt lên 60 đồng một tháng), trường không thể tiếp tục duy trì nên phải tạm thời đóng cửa. Một số học tăng được gửi ra Bắc theo học tại Tùng lâm Quán Sứ, một số lớn được Hòa thượng Thiện Hoa và Hoà thượng Trí Tịnh, bấy giờ vốn là những học tăng của trường vừa tốt nghiệp khoá đầu, đưa vào Nam theo học tại các Phật học đường Liên Hải, Sùng Đức, Mai Sơn, Ứng Quang. Đến năm 1947, khi tình hình kinh tế xã hội đã tạm vãn hồi, Phật học đường Báo Quốc mở cửa đón học tăng trở lại, nhưng lúc này trường được đặt dưới quyền điều khiển của Giáo hội Tăng già, do Thượng toạ Trí Thủ làm Giám đốc kiêm Đốc giáo.

Trong khi Phật học đường Kim Sơn tại Huế không thể tiếp tục duy trì thì tại Nha Trang, vào năm 1952, một ngôi trường của Hội Phật giáo Trung Việt (hậu thân của Hội An Nam Phật học) đã được thành lập, lấy tên là Tăng Học Đường Nha Trang, do Thượng tọa Thiện Minh làm cố vấn, Thượng toạ Huyền Quang làm Giám đốc, Thượng tọa Thiện Siêu làm Đốc giáo. Tăng Học Đường Nha Trang chính là hậu thân của Cao Đẳng Phật Học Đường Kim Sơn, tiếp tục duy trì đường hướng giáo dục của Hội Phật giáo Trung Việt. Chính trong lời diễn từ của Ban Giám đốc Tăng Học Đường Nha Trang đọc trong dịp lễ mãn khóa năm học 1955 đã khẳng định: “Phật học đường Nha Trang là đứa con chính thống, thừa tự đạo nghiệp của Đại học đường Kim Sơn truyền lại”[4].

Như vậy, có thể nói, trên cơ sở hợp nhất Phật Học Đường Báo Quốc và Tăng Học Đường Nha Trang, Phật Học Viện Trung phần Hải Đức – Nha Trang ra đời chính là đứa con đầu lòng, được thành hình do sự hợp lưu của hai hệ thống Phật học đường nói trên.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA PHẬT HỌC VIỆN TRUNG PHẦN

Ban Quản trị Phật Học Viện

Ngay sau khi tiếp nhận chùa Hải Đức, một Ban quản trị Phật Học Viện đã được thành lập. Ban quản trị gồm 6 vị, trực tiếp điều hành mọi sinh hoạt và đường hướng của Phật học viện, và phải chịu trách nhiệm trước hai Tổng trị sự. Thành phần được thỉnh cử gồm có:

Viện trưởng: Hoà thượng Thích Giác Nhiên
Phó Viện trưởng: Thượng tọa Thích Trí Quang
Giám viện: Thượng tọa Thích Trí Thủ
Giáo thọ trưởng: Thượng tọa Thích Thiện Siêu
Tổng thư ký: Thượng tọa Thích Huyền Quang
Tổng thủ quỹ: Thượng tọa Thích Thiện Minh

Mục đích, tôn chỉ của Phật Học Viện

Đạo pháp hưng thịnh hay suy yếu đều do tăng già quyết định, vì tăng già là người trực tiếp đẩy bánh xe chánh pháp đi giữa cuộc đời. Chỉ khi nào hàng ngũ tăng già có đủ giới đức thanh tịnh, học vấn uyên thâm mới đủ sức lèo lái con thuyền chánh pháp đi đúng hướng, đem lại an lạc hạnh phúc cho chúng sanh. Xác định rõ điều đó, mục đích của Phật Học Viện là: “đào tạo ra những tu sĩ có giới hạnh nghiêm túc, học vấn quảng bác, tinh thần mềm dẻo, ý chí hùng dũng, an nhiên bình thản khi an cũng như lúc nguy, không chấp cũng không vọng cầu, lấy việc độ sanh làm sự nghiệp, lấy hạnh phúc của chúng sanh làm lẽ sống duy nhất cho đời sống chân thật[5].

Từ đó, Ban quản trị Phật học viện thường xuyên nhắc nhở các học tăng phải luôn tâm niệm ba điều cốt tử, coi đó là tôn chỉ của mình, kể cả khi đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như sau này lên đường hành đạo:

  1. Không có vấn đề cá nhân tranh thắng, chỉ có vấn đề Đạo pháp trường tồn.
  2. Tín đồ là tất cả chúng sanh. Khả năng của tín đồ là một lực lượng vô biên để phát huy Chánh pháp.
  3. Hoàn cảnh khách quan giúp cho tổ chức chúng ta phát triển có thuận có nghịch khác nhau, nhưng đường lối chủ quan mà Chánh pháp đã dạy là phải giải cứu tất cả khổ đau của chúng sanh, không phân biệt oán thân[6].

Cơ sở vật chất của Phật Học Viện

Để có đủ cơ sở tiện nghi cho tăng chúng tu học, ngay sau khi tiếp quản chùa, Ban quản trị đã uỷ nhiệm Thượng tọa Giám Viện trực tiếp đảm nhiệm công tác kiến thiết, mở rộng trường ốc và các cơ sở thiết yếu.

Cùng với Ban hộ tự, công việc đầu tiên được Thượng tọa Giám Viện thực hiện là cho mở rộng hai dãy liêu ở hai hông tả hữu của chùa.

Đầu năm 1958, cho xây dựng một ngôi nhà dài 20m, rộng 10m, nửa trước được ngăn làm phòng học, nửa sau làm tăng xá. Cũng trong năm này, một Bệnh xá được xây dựng hoàn thành, dài 10m50, rộng 6m, dành cho các vị Giáo thọ và học tăng tịnh dưỡng khi lâm bệnh.

Ngày 10 tháng 5 năm 1959, hoàn thành một dãy nhà dài 36m, rộng 9.0m, được chia làm 7 phòng, trong đó có Văn phòng Ban Giáo thọ, một hội trường lớn dùng làm Thư viện, còn lại là phòng học. Ngày 10 tháng 12 năm 1959, hoàn thành một dãy nhà dài, gọi là Tịnh nghiệp hiên, dài 16m, rộng 6m, dùng làm nơi tu tập hàng tháng cho Đạo tràng Bát quan trai của Phật tử tại Nha Trang, và làm nơi lưu trú cho khách thập phương.

Ngày 7 tháng 8 năm 1960, hoàn thành một Thiền thất gồm ba phòng, dành cho chư tăng nhập thất hành thiền.

Ngày 3 tháng 1 năm 1961, chú đúc một Đại hồng chung tại Phật Học Viện, cao 1m70, đường kính 1m10, nặng 1010 kg (với ý nghĩa biểu trưng cho năm vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long). Đại hồng chung được đặt tại gác chuông trên đỉnh đồi phía đông của Phật Học Viện. Tiếng chuông Phật Học Viện một thời đã lắng đọng vào tâm thức của biết bao thế hệ người dân thành phố Nha Trang, đã đi vào thi ca của giới tao nhân mặc khách. Đặc biệt, Thi sĩ Quách Tấn có khá nhiều bài thơ và ký rất tinh tế nói về tiếng chuông của Phật Học Viện.

Cơ sở vật chất của Phật Học Viện Trung phần còn có các chi nhánh Phật học viện trực thuộc tại Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, cũng như các cơ sở kinh tài của Phật Học Viện.

Nội dung – chương trình đào tạo

Sau ngày khai giảng, học tăng của hai trường Phật học đường Báo Quốc và Tăng học đường Nha Trang, với tổng số 105 người, được quy tụ về Phật học viện Trung phần, cùng học chung một chương trình do Phật Học Viện ấn định.

Nội dung giảng dạy bao gồm cả nội điển và ngoại điển. Phần nội điển gồm có kinh, luật, luận, sử Phật giáo…, và dĩ nhiên đây là nội dung đào tạo chính. Riêng ba tháng an cư, học tăng chỉ chuyên tâm tu tập và trau dồi nội điển. Về ngoại điển gồm có Việt văn và các môn giáo khoa căn bản. Về sinh ngữ có tiếng Anh, tiếng Pháp. Về cổ ngữ có Hán cổ, Pali và Sanskrit.

Chương trình đào tạo được phân làm ba cấp: Tiểu học, Trung học và Đại học. Thời gian theo học cả ba cấp được quy định là 10 năm, gồm một năm dự bị, 3 năm Tiểu học, 3 năm Trung học và 3 năm Đại học. Muốn vào lớp dự bị, học tăng phải đủ 15 tuổi trở lên, và phải tốt nghiệp ban tiểu học bên ngoài. Và khi tốt nghiệp Đại học Phật giáo, trình độ ngoại điển của học tăng tối thiểu phải từ Tú tài trở lên.

Các ban ngành của Phật Học Viện

Để tạo môi trường đào luyện và trang bị những kiến thức, kỹ năng căn bản cho học tăng, giúp học tăng chuẩn bị những hành trang cần thiết để sau này ra trường đảm trách sứ mệnh hoằng pháp lợi sanh, Phật Học Viện đã mở ra nhiều ban ngành đào tạo, mời những vị giáo thọ, giảng sư có uy tín phụ trách, kể cả những học tăng ưu tú sau khi ra trường cũng được sung vào các ban này. Những ngành cơ bản gồm có:

  1. Ngành Giáo thọ: Ngành này gồm những vị tinh thông nội điển, có trách nhiệm giảng dạy giáo lý cho các lớp tiểu học, trung học và đại học tại Phật học viện hoặc được cử đi giảng dạy tại các chi nhánh của Phật học viện. Bên cạnh đó, ngành này còn có trách nhiệm nghiên cứu, dịch thuật, trước tác những giáo trình, những tác phẩm cần thiết để phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như quảng bá. Đây được xem là ngành đầu não của Phật học viện.
  2. Ngành Trụ trì: Ngành này gồm những vị có năng lực về tổ chức hành chánh, hướng dẫn phật tử và thông thạo nghi lễ. Các học tăng sau khi tốt nghiệp Phật học viện được phái về thường trú tại các tự viện, các chùa Hội quán của các địa phương để hướng dẫn và điều hành phật sự tổng quát, với tư cách là đại diện cho Phật giáo tại địa phương, phụ trách cả công tác đối nội và đối ngoại. Trú trì cũng có thể đảm trách luôn trách nhiệm giảng sư, nếu địa phương ấy chưa có giảng sư được phái đến.
  3. Ngành Giảng sư: Ngành này gồm những vị tinh thông nội điển cũng như những kiến thức xã hội cần thiết, có khả năng diễn thuyết trước quần chúng, đảm trách giảng dạy Phật pháp cho quần chúng Phật tử tại các địa phương. Khác với trú trì, giảng sự không thường trú tại các địa phương mà được thuyên chuyển liên tục. Lãnh đạo Phật Học Viện và Tổng Hội Phật giáo còn lên kế hoạch đưa học tăng đi tham học và giảng pháp ở nước ngoài.
  4. Ngành Giáo sư tư thục: Ngành này gồm những vị hội đủ điều kiện để đảm trách giảng dạy giáo lý và chương trình ngoại điển ở các cấp tại các trường tư thục Phật giáo. Mục đích của Phật Học Viện hướng đến là đào tạo ra những con người có năng lực để đảm trách việc quản lý, giảng dạy tại các trường tư thục Bồ Đề của Phật giáo cũng như dạy giáo lý cho Gia đình Phật tử tại các địa phương. Ngoài ra, ngành này còn hợp lực với ngành Giáo thọ để biên soạn giáo trình, sách báo phục vụ cho công tác giảng dạy.
  5. Ngành kinh tài: Với quy mô tổ chức lớn như vậy, Phật Học Viện cần phải có một kế hoạch sinh tài có hiệu quả để duy trì mọi sinh hoạt của Phật học viện, như kiến thiết trường ốc, cung ứng những nhu cầu tối thiểu cho học tăng trong quá trình theo học tại viện. Vì vậy, Ban quản trị quyết định thành lập ngành kinh tài, giao cho những vị thiệp thế, có sáng kiến, có khả năng kinh tài và đã được đào tạo chuyên môn trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phụ trách. Người được Ban quản trị tin tưởng và giao trọng trách này chính là Thượng toạ Thích Đỗng Minh.
    Các cơ sở kinh tài của Phật Học Viện gồm có Nhà xuất bản Hoa Sen, nhà in Liên Hoa, hãng vị trai Lá Bồ Đề và Hương Giải Thoát, xưởng sản xuất Đèn sáp Giác Ngộ, Thuốc tẩy Phiền não, xà phòng Chân Như… được mở tại Nha Trang và Huế.
  1. Thư Viện: Từ năm 1958, với sự hỗ trợ nhiệt tình của các phật tử hảo tâm, các Nhà xuất bản, Ban quản trị Phật Học Viện đã cho thành lập một Thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập của học tăng cũng như các vị giáo thọ. Thư viện đã sưu tập được một nguồn tư liệu khá phong phú, có đủ nội điển, ngoại điển và các sách báo quốc văn cũng như ngoại văn.

Chi nhánh của Phật Học Viện

Phật Học Viện có 3 chi nhánh, đặt tại Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn

  1. Chi nhánh Phật học viện Báo Quốc – Huế:

Số học tăng theo học tại đây khá đông, chương trình đào tạo bao gồm cả nội điển và ngoại điển. Tại chi nhánh này, từ trước đã có trường Trung học tư thục Bồ đề Hàm Long đóng tại đây, do Giáo Hội Tăng già quản lý. Nhưng kể từ khi Phật Học Viện Trung phần mở chi nhánh tại đây thì trường Bồ đề Hàm Long cũng được nhập chung, đặt dưới sự quản lý của Phật học viện Trung phần.

  1. Chi nhánh Phật học viện Phổ Đà – Đà Nẵng:

Số lượng học tăng theo học tại đây không đông bằng Huế, nội dung đào tạo chỉ thuần về nội điển, có một số giờ bổ túc thêm kiến thức quốc văn và ngoại ngữ. Chi nhánh Phật học viện Phổ Đà chính thức được khai giảng ngày 19 tháng 2 năm Canh Tý (1960). Trường được đặt tại chùa Phổ Đà, do Hội Phật học Đà Thành nhượng cúng cho Phật học viện Trung phần.

Hai chi nhánh Phật học viện Báo Quốc và Phật học viện Phổ Đà được coi là những trung tâm đào tạo và tuyển chọn tăng tài của Phật Học Viện Trung phần. Những học tăng nào sau khi hoàn tất khóa học tại hai chi nhánh này, nếu có trình độ khá sẽ được tuyển chọn vào Phật học viện Trung phần tại Nha Trang để tiếp tục đào tạo, trước khi được phân bổ đi phụ trách hoằng pháp tại các địa phương.

  1. Chi nhánh Tu viện Quảng Hương Già Lam:

Tu viện Quảng Hương Già Lam là chi nhánh đầu tiên của Phật Học Viện Hải Đức – Nha Trang đặt tại miền Nam, do Hòa thượng Thích Trí Thủ, thừa uỷ nhiệm Ban quản trị Phật Học Viện, thành lập năm 1961, để làm nơi lưu trú và tu học cho các học tăng sau khi đã tốt nghiệp Phật Học Viện, vào Sài Gòn tiếp tục học lên những ngành cao hơn.

Tại tu viện Quảng Hương Già Lam hiện còn lưu giữ một quả Đại hồng chung nặng 330kg, đường kính 1.0m, được chú đúc tại Phật học viện Trung phần Nha Trang năm 1966. Trên thân chuông có khắc bài Ký sự do chính Hoà thượng Thích Trí Thủ soạn, nói rõ lý do thành lập cũng như quá trình khai kiến Quảng Hương Già Lam, có đoạn viết: “Quảng Hương Già Lam là chi nhánh của Phật học viện Trung phần, thành lập năm 1956, đến năm 1961, Phật học viện Trung phần đã đào tạo được một số học tăng học xong Trung học (nội điển cũng như ngoại điển), cần vào Sài Gòn tiếp tục các ngành Đại học. Để có nơi cư trú thuận tiện cho số học tăng ấy, Ban quản trị Phật học viện uỷ nhiệm tôi thiết lập Già Lam này… Mọi giấy tờ về động sản và bất động sản của Phật học viện Trung phần ở Nha Trang cũng như của Quảng Hương Già Lam ở Sài Gòn đều do tôi đứng tên với tư cách Giám Viện, thừa uỷ nhiệm của Ban quản trị Phật học viện Trung phần”[7]

Tu viện Quảng Hương Già Lam chính thức mở cửa đón học tăng đến nhập chúng tu học năm 1962, gồm 6 vị. Về sau, mỗi năm mỗi đông thêm, cao điểm nhất là vào đầu năm 1975, tổng số tăng sinh tu học tại đây là 120 vị.

Các tăng sinh cư trú tại đây, một số theo học trường Cao đẳng Phật học Pháp Hội, sau này là Viện Đại học Vạn Hạnh, một số theo học các ngành như Y Dược, Luật khoa, Kiến trúc, Triết học, Văn chương… của các Đại học bên ngoài. Sau khi hoàn tất chương trình, các tăng sinh sẽ được điều phối đi đảm trách phật sự tại các địa phương.

Ngoài ba chi nhánh kể trên, Phật Học Viện Trung phần còn có ba Ni Viện trực thuộc, đó là Ni Viện Diệu Quang tại Nha Trang, Ni Viện Bảo Quang tại Đà Nẵng và Ni Viện Diệu Đức tại Huế.

Các hoạt động của Phật Học Viện

Phật Học Viện Trung phần không chỉ chuyên trách công tác giáo dục mà còn đặt biệt quan tâm đến vấn đề truyền trì mạng mạch của tăng già cũng như công tác hoằng pháp. Hoạt động tiêu biểu nhất của Phật Học Viện kể từ khi thành lập năm 1956, đến năm 1975 là đã tổ chức được ba kỳ Đại Giới Đàn và một Đại hội Hoằng pháp toàn quốc.

Đại hội Hoằng pháp toàn quốc:

Phải nói rằng, Đại hội Hoằng pháp toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Phật Học Viện Trung phần Nha Trang năm 1962 có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính từ Đại hội này, một đường lối hoằng pháp hết sức thiết thực đã hoạch định, làm cơ sở cho Đại hội hoằng pháp lần 2 (1964, tại chùa Xá Lợi) và Đại hội hoằng pháp lần 3 (1969, tại chùa Ấn Quang) sau này triển khai thực hiện.

Đại Giới Đàn lần thứ nhất: Giới đàn diễn ra trong ba ngày 7, 8, 9 tháng Chạp năm Bính Thân, nhân dịp kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo và cũng là ngày khánh thành Phật Học Viện. Đường đầu Hòa thượng là Hòa thượng Thích Giác Nhiên (Viện trưởng Phật Học Viện), Chánh chủ đàn là Thượng tọa Thích Trí Thủ (Giám Viện), Phó chủ đàn là Thượng toạ Thích Thiện Minh và các Thượng tọa trong Ban quản trị Phật Học Viện. Hội đồng Thập sư được cung thỉnh gồm chư tôn đức trong toàn quốc.

Số lượng giới tử từ Bắc chí Nam về thọ giới lên đến ngàn người. Và có khoảng ba ngàn tăng ni và Phật tử về dự hội. Thủ Sa di của chúng Tỳ kheo là Đại đức Thích Trừng San, tri sự Phật Học Viện; Thủ chúng Bồ tát tại gia là đạo hữu Chơn An Lê Văn Định.

Đại Giới Đàn lần thứ hai: Giới đàn được tổ chức trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 6 năm Mậu Thân (nhằm ngày 12, 13, 14 tháng 7 năm 1968), do Thượng tọa Thích Trí Thủ làm Chánh chủ đàn.

Đường đầu Hòa thượng là Đức đệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Đại vị Đường đầu Hòa thượng là Hòa thượng Thích Phúc Hộ, Yết ma A xà lê là Thượng toạ Thích Thiện Hoà, Giáo thọ A xà lê là Thượng tọa Thích Mật Nguyện và Thượng tọa Thích Thiện Hoa.

Thành phần Tôn chứng gồm các Thượng tọa: Thích Huyền Tân, Thích Trí Nghiêm, Thích Diệu Hoằng, Thích Đạo Quang, Thích Giác Tánh, Thích Trí Thành, Thích Hưng Sơn.

Dẫn thỉnh là Thượng tọa Thích Thanh Trí và Thượng tọa Thích Đức Thiệu. Quản giới tử là Đại đức Thích Chánh Trực, Đại đức Thích Đức Phương.

Hội đồng khảo thí do Thượng tọa Thích Mật Nguyện làm Chánh chủ khảo, Thượng tọa Thích Huyền Quang làm Chủ tịch Hội đồng, Đại đức Thích Thiện Bình làm Tổng thư ký.

Giới tử Tỳ kheo tham dự khảo thí gồm 350 vị, chỉ có 103 vị trúng tuyển; giới tử Sa di dự thi gồm 493 vị, chỉ có 126 vị trúng tuyển. Tỳ kheo ni có 37 vị, Sa di ni 19 vị, Thức xoa ma na 19 vị. Giới tử Thập thiện gồm 200 người; giới tử Ưu bà tắc và Ưu bà di gồm 350 người.

Thủ Sa di của chúng Tỳ kheo là Đại đức Thích Nguyên Phương (chùa Già Lam, Sài gòn); Vĩ Sa di là Đại đức Thích Lưu Hoà (chùa Trúc Lâm, Huế) và Đại đức Thích Thiện Lương (Khánh Hoà).

Đặc biệt, tại Giới đàn này, lần đầu tiên Ban kiến đàn đã cho thực hiện một Bản tin báo chí, do Đại đức Thích Giác Tuệ và nhóm học tăng Phật Học Viện phụ trách, đã tường thuật khá tường tận mọi thông tin về Giới đàn.

Đại giới đàn lần thứ ba: Nhân kỷ niệm 10 năm (1963 – 1973) ngày viên tịch của Đại lão Hòa thượng Thích Phước Huệ (nguyên trú trì Tổ đình Hải Đức Nha Trang, khai sơn Tổ đình Hải Đức Huế), Ban quản trị Phật Học Viện quyết định tổ chức Giới đàn lấy tên là Đại Giới Đàn Phước Huệ, để truy niệm công đức của ngài. Giới đàn này được tổ chức trong ba ngày 19, 20, 21 tháng 9 năm Quý Sửu (nhằm ngày 14, 15, 16 tháng 10 năm 1973), do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chánh chủ đàn.

Đường đầu Hòa thượng là Hòa thượng Thích Phúc Hộ; Yết ma A xà lê là Thượng toạ Thích Giác Tánh; Giáo thọ A xà lê là Thượng tọa Thích Trí Nghiêm và Thượng tọa Thích Huệ Hưng; Tuyên luật sư là Thượng tọa Thích Trí Tịnh.

Thành phần Tôn chứng gồm các Thượng tọa: Thích Đạo Quang, Thích Ấn Tâm, Thích Tịch Tràng, Thích Trí Thành, Thích Giải An, Thích Hoàn Thông, Thích Quảng Hiệp. Dẫn thỉnh là các Thượng toạ: Thích Nhật Lệ, Thích Quang Thể, Thích Đức Phương, Thích Tâm Hướng. Quản giới tử là Thượng tọa Thích Chánh Trực, Thượng toạ Thích Thiện Nhơn.

Hội đồng khảo thí do Thượng tọa Thích Đức Nhuận làm Chánh chủ khảo, Thượng tọa Thích Đức Tâm làm phó chủ khảo, Đại đức Thích Thiện Hạnh, Thích Minh Tuệ làm Thư ký.

Tại Giới đàn này, có 214 giới tử Tỳ kheo và 217 giới tử Sa di được tuyên danh trúng tuyển. Có 115 giới tử kém may mắn không được tuyên danh, trong đó có 61 giới tử Tỳ kheo và 54 giới tử Sa di. Thủ Sa di của chúng Tỳ kheo là Đại đức Thích Hải Ấn (Phật học viện Báo Quốc – Huế).

Kết thúc Đại giới đàn, Ban kiến đàn có tổ chức Đại lễ cầu quốc thái dân an và trai đàn chẩn tế. Đặc biệt, Bản tin Đại giới đàn Phước Huệ lần này có một bước cải tiến đáng kể so với bản tin của Đại giới đàn trước đó (1968), cả về nội dung cũng như hình thức. Bản tin ra cả thảy 5 số, do Đại đức Thích Nguyên Chứng (Tuệ Sỹ) và nhóm học tăng của Phật Học Viện phụ trách.

Ngoài các hoạt động kể trên, hàng năm, Ban quản trị Phật Học Viện còn quyết định lấy ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo (mồng Tám tháng Chạp) làm ngày Về nguồn cho các thế hệ học tăng cũng như các vị giáo thọ của Viện.

Công tác đối ngoại của Phật Học Viện

Cùng với việc trao đổi giảng sư với các Phật học viện, các Đại học Phật giáo và các trường Đại học thuộc hệ thống công lập ở trong nước, Ban quản trị Phật Học Viện còn lên kế hoạch đưa giảng sư và học tăng đi hoằng pháp và du học ở nước ngoài. Tiêu biểu như Thượng tọa Thích Minh Châu du học tại Ấn Độ, Thượng tọa Thích Thiên Ân du học tại Nhật Bản, đó chính là những vị Giảng sư cơ hữu của Phật học viện.

Uy tín của Phật Học Viện không chỉ được giới nhân sĩ trí thức trong nước biết đến, mà ngay cả những bậc cao tăng, các vị học giả nước ngoài mỗi khi đến Việt Nam cũng đều đến thăm và làm việc với Phật Học Viện.

Phật Học Viện đã từng tiếp đón hai vị cao tăng Trung Hoa là Pháp sư Siêu Trần và Pháp sư Diễn Bồi đến thăm và làm việc ngày 15 tháng 7 năm 1958; tiếp Đại đức Narada, Tích Lan, đến thăm và làm việc với Phật học viện ngày 6 tháng 12 năm 1959; tiếp Giáo sư Richard A.Gard, Đại học Yale, Mỹ, đến thăm và tìm hiểu về tổ chức của Phật giáo Việt Nam, ngày 4 tháng 8 năm 1960.

Đặc biệt, vào tháng 8 năm 1958, Phật Học Viện đã tiếp một vị khách đặc biệt, ông Frank M. Bazl, một kỹ sư người Mỹ, tìm đến Phật Học Viện ngày 27 tháng 8 năm 1958 và tự nhận mình là con kiếp trước của Hòa thượng Phước Huệ (nguyên trú trì chùa Hải Đức Nha Trang). Ông được Hòa thượng Phước Huệ thâu nhận, cho pháp danh là Chơn Trí. Bấy giờ, ông Frank M. Bazl đang làm việc tại đô thành Sài Gòn, tuy đã lập gia đình nhưng vẫn chuyên tu thiền định. Sau ngày cha con gặp nhau, mỗi Chủ nhật hằng tuần ông đều đáp tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang, tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tại Phật Học Viện. Tin đồn lan xa, mật thám của Ngô triều để ý, vậy là chỉ một thời gian sau ông đã bị triệu hồi về nước.

VIỆN CAO ĐẲNG PHẬT HỌC HẢI ĐỨC NHA TRANG

Để tiến đến thành lập một Đại học Phật giáo tại Nha Trang theo đúng kế hoạch mà ngay từ đầu Ban quản trị Phật Học Viện đã xác định, Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang ra đời chính là một bước đi cần thiết, nhằm thực hiện nhiệm vụ đào tạo trình độ Đại học Phật giáo cho tăng sinh.

Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang chính thức được thành lập năm 1974, nhưng để có được bước đi này, kể từ năm 1970, Ban quản trị Phật Học Viện đã cho mở những khóa đào tạo chuyên khoa Phật học Trung đẳng II, và đến trước năm 1974, ít nhất đã có 2 lớp chuyên khoa Phật học đã tốt nghiệp. Theo báo cáo của Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN tại Đại hội năm 1974, cho biết: Năm 1972, Phật học viện Trung phần Nha Trang đã đào tạo được 21 tăng sinh tốt nghiệp chuyên khoa Phật học Trung đẳng II; năm 1974, đã đào tạo được 29 tăng sinh tốt nghiệp chuyên khoa Phật học Trung đẳng II; và từ năm 1971 đến năm 1974, tại Phật học viện đã có 100 tăng sinh đỗ Tú tài toàn (Trung học phổ thông) theo hệ thế học.

Vậy là kể từ năm 1974, Phật học viện Trung phần Hải Đức Nha Trang đã bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ của Viện Cao đẳng Phật học. Để trực tiếp điều hành hoạt động của Viện, Giáo Hội và Ban quản trị Phật học viện đã thỉnh cử Thượng toạ Thích Thiện Siêu làm Viện trưởng, vì bấy giờ Hoà thượng Thích Trí Thủ phải đảm nhiệm chức Viện trưởng Viện Hoá Đạo, thay thế Hoà thượng Thích Thiện Hoa vừa viên tịch.

Thành phần Ban Giám Viện

Viện trưởng: Thượng tọa Thích Thiện Siêu
Phó Viện trưởng: Thượng tọa Thích Đỗng Minh
Tổng Thư ký: Thượng tọa Thích Thiện Bình
Thư ký: Tuệ Sỹ
Tri sự: Đại đức Thích Trừng San

Trong đó, Thượng tọa Thích Đỗng Minh vừa giữ chức Phó Viện trưởng vừa kiêm luôn chức vụ Trưởng Ban kinh tế tự túc của Viện.

Nội dung – chương trình đào tạo

Song song với việc giảng dạy nội điển, như kinh, luật, luận thuộc Hán tạng, khi xây dựng chương trình Cao đẳng Phật học, Ban Giám Viện còn đặc biệt chú ý đến việc đào tạo sinh ngữ, cổ ngữ và một số môn ngoại điển căn bản cho tăng sinh, như Sanskrit, Pali, Hán cổ, Anh ngữ, Nhật ngữ, Văn học, Sử học, Triết học, Sử Phật giáo, Văn học sử Phật giáo, Nghi lễ, Diễn giảng…

Với chủ trương đào tạo đó, ngay trong lời Diễn từ nhậm chức Viện trưởng, đọc trước Hội đồng Giám Viện và toàn thể tăng sinh ngày 28 tháng 11 năm 1974, Thượng toạ Thích Thiện Siêu đã khẳng định: “Bên cạnh công phu nghiên tầm nội điển, tăng sinh còn cần có những kiến thức bao trùm các ngành văn hoá, dù là kiến thức đại cương nhưng không thể không có, mà có thể đáp ứng được thời cơ, vận dụng khả năng hoằng pháp vào mọi trường hợp, để chuyển hướng lòng người về đường Giác ngộ. Ngày xưa Đức Phật đã từng dùng bốn Tất-đàn trong việc hoá đạo, nên ngài đã nhiếp hoá được mọi người, đủ mọi trình độ. Ngày nay, một nhà đạo sĩ nếu chưa thành tựu được quán chiếu thì phải là một nhà văn hoá, mới mong phát huy sự nghiệp hoằng hoá của mình trước mọi biến chuyển của thời đại. Do đó, những môn văn chương, triết lý, sinh ngữ… đều được kèm theo chương trình nội điển từ thấp đến cao”[8].

Thành phần Ban Giáo thọ 

Thành phần Ban Giáo thọ gồm có: Thượng tọa Thích Thiện Siêu, Thượng tọa Thích Trí Nghiêm, Thượng tọa Thích Viên Giác (phụ trách Kinh học thuộc Hán tạng); Thượng tọa Thích Đỗng Minh (phụ trách Luật học); Thượng toạ Thích Thiện Bình (phụ trách diễn giảng); Tuệ Sỹ (phụ trách Luận học và cổ ngữ Sanskrit, Pàli); Giáo sư Lê Mạnh Thát (phụ trách Sử Phật giáo, văn học Phật giáo); Nguyên Hồng, Doãn Quốc Sỹ (phụ trách Văn học); Cao Hữu Đính (phụ trách Văn học sử Phật giáo); Võ Hồng (phụ trách Văn chương và Nhật ngữ).

Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang ra đời và hoạt động được khoảng chừng một năm thì đến ngày đất nước thống nhất. Từ giữa năm 1975 đến năm 1981, trong giai đoạn chuyển giao để tiến đến thành lập Trường Cao Cấp Phật Học tại chùa Quán Sứ và Thiền viện Vạn Hạnh ở hai miền Nam Bắc, Viện tuy không tiếp tục chiêu sinh nhưng vẫn duy trì việc giảng dạy nội điển cho các tăng sinh nội trú, và công việc chính yếu của Ban Giám viện cũng như các vị Giáo thọ lúc này là tập trung nghiên cứu và phiên dịch kinh điển. Phần lớn những bộ kinh, luận quan trọng, các công trình nghiên cứu của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Trí Nghiêm, Hoà thượng Thích Đỗng Minh và một số vị trong Ban Giáo thọ đều được hoàn thành tại đây trong khoảng thời gian này.

LỜI KẾT

Phật Học Viện Trung phần Hải Đức – Nha Trang ra đời và hoạt động chỉ trong vòng 20 năm, từ 1956 đến 1975, đó không phải là quảng thời gian đủ dài để định hình cho một đường hướng giáo dục, nhưng cũng không phải quá ngắn để người ta dễ dàng lãng quên. Nói đến giáo dục, nhất là giáo dục Phật giáo, không phải tính xem ngôi trường đó có tuổi thọ bao nhiêu, mà vấn đề là nó được trưởng thành như thế nào?

Trong 20 năm hiện diện, Phật Học Viện Trung phần đã làm được những gì, và để lại cho chúng ta điều gì?

Phật Học Viện đã làm được nhiều việc. Và để lại cho chúng ta, không phải là cái hào quang vang bóng một thời, mà chính là một thông điệp vô cùng giá trị. Thông điệp đó, khi mở ra, đã nhắn nhủ với chúng ta một điều, rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, để hoàn thành sứ mệnh hoằng pháp lợi sanh, người con Phật phải luôn ghi nhớ: “Không có vấn đề cá nhân tranh thắng, chỉ có vấn đề Đạo pháp trường tồn”![9].

“Đạo pháp trường tồn”, đó là lời nguyện mà chúng ta thường đọc lên mỗi ngày. Và chúng ta đều biết, chỉ có “Đạo pháp trường tồn” (chứ không phải cái ta “cá nhân tranh thắng” trường tồn) thì chúng sanh mới được an lạc. Nói thì dễ, nhưng thực hiện được thật khó. Vì biết khó nên chư Tổ mới dạy phải lập chí, lập nguyện.

Hoà thượng Thích Thiện Siêu, trong lời Diễn từ nhậm chức Viện trưởng Viện Cao Đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, một lần nữa đặt lại vấn đề này để xác định rõ quan điểm, lập trường của Viện: “Phải chăng, nói bao giờ cũng dễ, làm bao giờ cũng khó? Khó nhất là khi việc làm đó lại là việc làm của sự giác ngộ, siêu thoát trước mọi quyền lực, đam mê đang ẩn núp trong tâm niệm luân trầm, như từng khiến bao kẻ hăng hái lên đường, nhưng một thời gian sau nhìn lại, thấy mình đang thối lui hoặc dẫm chân tại chỗ. Chúng tôi chỉ còn chút hy vọng, nhờ kiểm điểm lại lịch sử diễn tiến xưa nay, trong đó có nhiều trường hợp giúp chúng tôi xác tín hơn lên về sức mạnh của ý chí, của tinh thần giác ngộ, đã có thể làm chủ được mọi sự, kể cả cái bản ngã ươn hèn của mình”[10].

Bằng thông điệp đó, và trong hướng đi đó, Phật Học Viện Trung phần đã quy tụ và nối kết được những trái tim nhiệt huyết, những con người có cùng tâm nguyện sát cánh bên nhau, cùng nhìn về một hướng. Những con người đó đã luôn tìm cách nuôi dưỡng và truyền hơi ấm cho biết bao thế hệ học trò của mình, để rồi, những tăng sinh ấy sau khi ra trường lại mang bầu nhiệt huyết đó lên đường với một sứ mệnh cao cả. Họ có thể là những vị giáo thọ tại các Phật học viện, là người quản lý, giảng dạy tại các trường Bồ đề, là những vị trú trì tại các tự viện, hoặc là những vị giảng sư đang hoá đạo tại các địa phương. Tất cả họ, trong mỗi ánh mắt luôn sáng ngời niềm tin, trong mỗi trái tim luôn cháy bùng lý tưởng phụng sự.

Nha Trang là Xứ Trầm Hương, là nơi đã nuôi dưỡng và lưu xuất biết bao những bậc hùng tăng, những tấm gương hành đạo và hộ đạo sáng ngời trong lịch sử. Với 20 năm Phật Học Viện Trung phần đóng tại đây, Nha Trang một thời là nơi hội tụ của những tinh hoa Phật giáo thế kỷ 20. Đó không chỉ là một điểm son của Phật giáo Khánh Hoà mà còn là một đóng góp quan trọng của Phật giáo Xứ Trầm Hương cho lịch sử Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

T.K.N

[Nguồn: TTVHPG Liễu Quán]

__________________

[1] Thích Thiện Minh, Báo cáo tổng kết thành tích Tăng học đường Nha Trang, niên khóa 1955, Phật học đường Tổng Hội phát hành, Nha Trang 1956, tr.3.

[2] Xem nguyên văn Biên bản nguyện cúng chùa ở phần Phụ lục, cuối sách.

[3] Xem nguyên văn Thư phúc đáp của Thượng tọa Thích Trí Quang gửi Hòa thượng Thích Phước Huệ ở phần Phụ lục, cuối sách.

[4] Diễn từ của Ban Giám đốc Tăng học đường Nha Trang, đọc trong dịp Lễ mãn khóa niên học 1955, Phật học đường Tổng Hội phát hành, Nha Trang 1956, tr.6.

[5] Phật Học Viện bốn năm qua, Kỷ yếu Đời Sống Đạo – Đặc san kỷ niệm đệ tứ chu niên Phật Học Viện Trung phần Nha Trang, Phật học viện Trung phần ấn hành, Nha Trang 1960, tr.10.

[6] Huấn từ của Ban Quản trị Phật Học Viện Trung phần, đọc trong dịp tiễn đưa các học tăng đi hoằng pháp tại các tỉnh, Sdd, tr.56.

[7] Thích Đức Chơn, Khai kiến Quảng Hương Già Lam, Kỷ niệm 30 thành lập Tu viện Quảng Hương Già Lam: 1961 – 1992.

[8] Thích Thiện Siêu, Diễn từ nhậm chức Viện trưởng Viện Cao Đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, ngày 28 tháng 11 năm 1974, tr.3 (tư liệu Thư viện Từ Đàm, Huế).

[9] Huấn từ của Ban Quản trị Phật Học Viện Trung phần, Kỷ yếu Đời Sống Đạo, Phật Học Viện Trung phần ấn hành, Nha Trang 1960, tr.56.

[10] Thích Thiện Siêu, Diễn từ nhậm chức Viện trưởng Viện Cao Đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, ngày 28 tháng 11 năm 1974, tr.2 (tư liệu Thư viện Từ Đàm, Huế).

Leave a Reply