Chân Văn Đỗ Quý Toàn: Đứng Vững Ngàn Năm | Thiên Hạ


Hai chữ Thiên Hạ bao hàm một quan niệm chính trị độc đáo, không thấy một khái niệm tương đương trong các truyền thống chính trị khác. Ba ngàn năm trước đây, người Trung Hoa đã đưa ra hình ảnh một xã hội loài người lý tưởng, nhân danh mô hình lý tưởng này như một “chủ nghĩa quốc tế” để bành trướng từ vùng sông Hoàng xuống phía Nam.

Cuốn phim “Hoàng Đế và Thích Khách” (Kinh Kha thích Tần Vương 荊軻刺秦王 do Trần Khải Ca đạo diễn, 1998) kể chuyện một hiệp sĩ âm mưu ám sát Tần Thủy Hoàng; đến khi có cơ hội lại buông kiếm không giết. Một người bạn hỏi tại sao anh không hạ thủ? Chàng thích khách im lặng, dùng thanh kiếm viết trên cát hai chữ: Thiên Hạ (天下, Dưới Bầu Trời). Một ngọn gió thổi qua, cát bay mù mịt, trong chốc lát xóa mờ hai chữ Thiên Hạ! Nhưng khán giả hiểu. Câu trả lời là: Không giết, vì Thiên Hạ! Một bạo chúa này chết đi thì chư hầu bốn cõi lại nổi lên chém giết lẫn nhau, thiên hạ sẽ đại loạn như suốt mấy trăm năm trước đó. Rồi một tên bạo chúa mới lại xuất hiện, có khác gì đâu! Không giết, vì Thiên Hạ.

Người coi phim có thể nghĩ rằng hai chữ Thiên Hạ này nói đến toàn thể Trung Quốc. Nhưng vào đời Tần chưa có một nước Trung Hoa. Thời đó chỉ có một tập hợp nhiều nước chư hầu, trên cùng là ông vua nước Chu, được gọi là Con Trời, vua của các ông vua, dù sức yếu hơn các ông vua khác. Nước Tần mạnh, đánh chiếm và xóa bỏ các chư hầu khác, sau cùng bắt ông vua nước Chu nhường chín cái “Đỉnh,” tượng trưng cho quyền thiên tử. Nhà Tần thống nhất thiên hạ. Hai chữ “Thiên Hạ” không nói về một nước, một quốc gia nào. Theo nghĩa đen, thiên hạ bao gồm mọi thứ ở dưới bầu trời; tất cả mặt đất.

Tần Thủy Hoàng bị các sử gia sau này chỉ trích về các chính sách hà khắc tàn bạo, nhưng ai cũng công nhận thành tích của ông: Người đầu tiên thống nhất Trung Quốc. Ông tự coi đã cai trị tất cả các thứ dưới bầu trời, cả thế giới người Trung Hoa biết đến vào lúc đó. Trong Sử Ký, Quyển 6, Tần Thủy Hoàng Bản Kỷ, Tư Mã Thiên viết rằng lãnh thổ của Thủy Hoàng bao gồm bốn phương Tây, Nam, Đông, Bắc, “Đi tới bất cứ nơi nào có dấu người ở; không ai không phải là thần dân.” (Nhân tích sở chí, vô bất thần giả (史記/秦始皇本紀:“西涉流沙,南盡北戶, 東有東海,北過大夏, 人迹所至, 無不臣者). Rõ ràng là tất cả loài người, khắp mặt đất, ai cũng được coi là thần dân của ông ta. Các triều đại sau này thừa hưởng di sản đất đai của Thủy Hoàng, thừa hưởng cả danh hiệu Hoàng Đế, ghép tên gọi các ông vua huyền thoại Tam Hoàng và Ngũ Đế. Từ đời Hán về sau, tuy các triều đại vẫn đề cao Nho Giáo, bài xích Tần Thủy Hoàng tàn bạo (Mao Trạch Đông thì không) nhưng trong thực tế họ vẫn sử dụng các thuật trị quốc của nhà Tần, tức là theo tư tưởng và kỹ thuật cai trị của phái Pháp Gia.

Theo các sử gia Trung Hoa gần đây, lãnh thổ mà Tần Thủy Hoàng thống trị thực ra rộng chưa bằng một nửa diện tích Trung Quốc bây giờ. Chính người Trung Hoa lúc đó cũng nghĩ diện tích miền đất gọi là Trung Quốc rất nhỏ. Nhà huyền học Trâu Diễn (邹衍, 305 – 240 TCN), không biết căn cứ vào đâu, nói rằng tất cả “Thiên Hạ” gồm có 81 châu; Trung Quốc là một trong 81 châu đó. Các vua nhà Hán theo sau nhà Tần đã mở rộng cương giới ra gần gấp đôi, gồm hết Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc nước Việt Nam ta. Đời nhà Đường bành trướng thêm nữa, sang các vùng ở phía Tây.

Nhất thống thiên hạ

Lãnh thổ mà các hoàng đế nghĩ họ cai quản là tất cả thiên hạ. Ông vua nhà Chu chỉ cai quản một vùng gọi là “vương giới” (王畿) nhưng ông được các “nước” chư hầu (诸侯国) coi là “con trời” (thiên tử, 天子); tất cả hợp lại cũng không gọi là một “nước.” Đối với người Hán sống trong vùng sông Hoàng, sông Hoài trước đây ba ngàn năm, các sắc dân bên ngoài “Trung Quốc” đều chưa văn minh, đều là man rợ hết. Người Hán tự coi họ là văn minh vì họ đã thiết lập một xã hội sống trật tự với một nền luân lý và một chế độ chính trị thành hình từ thời Thương, Chu, hai, ba ngàn năm trước Công Nguyên. Mạnh Tử (372 – 289) ở nước Tề từng chê bai một triết gia từ nước Sở lên, gọi ông ta là người “di.” Nước Tề ở vùng Sơn Đông tại miền Đông Bắc, còn nước Sở nằm bên sông Dương Tử, ở giữa nước Tàu, khoảng cách chưa bằng nửa con đường từ Sơn Đông tới biên giới Việt Nam.

Trung Quốc vốn không phải là một dân tộc – quốc gia (nation – state). Mỗi triều đại mới lên ở Trung Quốc, dù lớn hay nhỏ, đều tự coi là một “quốc” (nước) mới. Những người giúp ông vua “mở nước” được gọi là “khai quốc công thần.” Đến đời Đường, chữ “quốc” vẫn được hiểu là một “triều đại” chứ không phải là một nước. Như khi nhà thơ Đỗ Phủ thấy “quốc” mất nhưng núi sông vẫn còn, ông viết, “Quốc phá sơn hà tại.” Chữ “Quốc” trong câu này không có nghĩa là một nước, một quốc gia, mà chỉ là một triều đại cầm quyền. Khi nào uy quyền trung ương tan rã, các vùng trong Trung Quốc hoặc bị đế quốc khác đến chiếm, hoặc tự tuyên bố thành lập một “quốc” riêng.

Vì không có sẵn ý thức dân tộc, ít nhất cho tới thế kỷ 19, 20, dân Trung Hoa chấp nhận sống dưới các chính quyền ngoại bang; mà không cần phản đối đến cùng như dân Việt Nam. Thời Nam Bắc Triều, cả miền Bắc Trung Quốc do các giống dân “Rợ” từ ngoài kéo xuống cai trị, trong nhiều thế kỷ. Có lúc nước Tàu bị cắt ra, nhiều vùng được nhập vào nước Liêu, nước Kim, họ đều là các triều vua ngoại quốc. Các vua nhà Tống thua đế quốc Mông Cổ, sau đó dân “của nhà Tống” cam chịu sống với triều đại mới; cũng như sau này người Trung Hoa sống dưới quyền cai trị khắc nghiệt của các vua nhà Mãn Thanh gần ba thế kỷ.

Cuối năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc, ủy viên phụ trách về đối ngoại trong Thường Vụ Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc, viết rằng nước ông không bao giờ có chính sách xâm chiếm các nước khác. Nói như vậy là cố ý quên cả lịch sử. Vì nước Trung Hoa ngày xưa không rộng lớn như bây giờ. Nhà nghiên cứu chính trị Trung Quốc tên là Triệu Đinh Dương (Zhao, Tingyang; 赵汀阳), thuộc Viện Khoa học Xã hội Bắc Kinh),  tính toán rằng vào thời Nhà Chu (1046 – 221 trước Công Nguyên) khi nói đến “cửu châu” tức là tất cả lãnh thổ Trung Quốc, thì địa giới của chín châu đó chỉ bằng một phần tư nước Tầu hiện nay. Nếu không đi xâm chiếm và đồng hóa các dân tộc khác thì làm sao Trung Quốc lại lớn lên gấp bốn lần trong ba ngàn năm qua? Ngay bây giờ, chính quyền Bắc Kinh vẫn đòi thế giới phải công nhận Trung Quốc làm chủ cả xứ Tây Tạng, mặc dù họ chỉ chiếm nước này vào đời nhà Thanh mà thôi! Nếu dân Việt Nam không đuổi được quân Minh vào thế kỷ 15 thì chắc số phận người Việt cũng không khác gì dân Tây Tạng. Ngược lại, nếu nước Nhật không thua trận Đại Chiến Thứ Hai thì chắc bây giờ vẫn có một nước Mãn Châu nằm ngoài Trung Quốc.

Người Trung Hoa ngày xưa không tự gọi là họ “dân Trung Quốc.” Họ tự xưng bằng tên của các triều đại, như dân nhà Hán, dân nhà Đường, hoặc người Đại Tống, người Đại Minh, vân vân. Trung Quốc lúc đầu chỉ là một danh từ địa lý, không phải tên một quốc gia. Cho tới khi Tôn Trung Sơn lập ra Trung Hoa Dân Quốc nó mới thành tên gọi chính thức. Ông Tôn Trung Sơn là một người gốc Khách Gia (Hẹ) sinh ở Quảng Đông, vùng đất trước đây 20 thế kỷ còn chưa thuộc vào Trung Quốc. Người Tây Tạng, người Mông Cổ ngày nay mang cùng một quốc tịch, nhưng không muốn ai gọi họ là người Trung Quốc; người Uyghur trong tỉnh Tân Cương cũng vậy.  Các Hoa kiều sống nhiều đời ở Việt Nam tự gọi họ là người Quảng Đông, người Phúc Kiến, người Tiều, người Hẹ, chứ không chỉ tự xưng là người Hoa.

Tên gọi Trung Quốc được sử dụng từ các văn bản rất cổ đời Xuân Thu (721 – 479), Chiến Quốc  (478 đến 221 TCN; trong sách Mạnh Tử đã nhắc tới hai chữ đó nhiều lần. Nhưng chữ Quốc chắc hiểu là số nhiều, chỉ bao gồm một số nước chư hầu ở khu giữa. Trung Quốc nằm hai bên sông Hoàng Hà, thuộc phần phía Nam tỉnh Hà Bắc và tỉnh Sơn Tây bây giờ. Trong Chiến Quốc Sách, một quân sư bầy mưu cho Nhương Hầu nước Tần, đi xúi vua nước Yên đánh Tề, nhử vua nước Yên bằng một món lợi. Họ bảo nếu đánh Tề, vua Yên sẽ chiếm thêm được vùng Hà Nam, để trở thành “một nước lớn tiếp thông với Trung Quốc.” Nước Yên nằm trong tỉnh Hà Bắc bây giờ, thủ đô Bắc Kinh hiện nay trước gọi là Yên Kinh, thuộc nước Yên. Nhưng theo lời đoạn văn trong Chiến Quốc Sách dẫn trên đây thì 300 năm trước Công Nguyên nước Yên vẫn chưa nằm trong “Trung Quốc.” Căn cứ vào câu đó thì chúng ta biết vùng đất gọi tên là Trung Quốc rất nhỏ. Nước Tề ở xa hơn, phía bán đảo Sơn Đông cũng vậy. Cũng trong thời gian đó, những vùng rất xa ở phía Nam bên dòng Trường Giang (thường gọi là sông Dương Tử) chắc chắn chưa thuộc Trung Quốc. Khi Mạnh Tử viết tên “Trung Quốc” thì đó không phải là tên một quốc gia, mà là một vùng đất đai; rộng nhất cũng chỉ bao gồm mấy nước chư hầu phía Bắc Trường Giang.

Các hoàng đế Trung Hoa chỉ dùng tên triều đại của họ, như nước Hán, nước Đường, bao gồm những vùng đã rộng hơn thời Mạnh Tử. Người Trung Hoa bây giờ vẫn còn tự nhận là dân Hán, dân Đường (như vai chính trong phim Đường Sơn Đại Huynh là một “anh lớn” từ Núi Đường mới qua Thái Lan; hoặc họ đặt tên Phố Tàu là Đường Nhân Nhai, ở Montréal, Canada).

Nhiều sắc dân từ bên ngoài vào chiếm đóng rồi cai trị dân Trung Hoa hàng trăm năm cũng nhân danh quan niệm Thiên Hạ để biện minh cho chế độ mới. Năm 947, một vị vua giống Khiết Đan tự đặt tên lãnh thổ dưới quyền mình là Đại Liêu, và phong vương hiệu cho ông vua nhà Hậu Đường. Đây là một cảnh hiếm hoi, vị vua Trung Quốc chịu thần phục một hoàng đế thuộc giống dân thiểu số. Nhưng vị hoàng đế Khiết Đan giải thích rằng Thiên Hạ là của chung; các hào kiệt cùng đi săn, ai bắn được con nai thì được làm chủ. Khi Hốt Tất Liệt xưng đế ở Bắc Kinh năm 1271, vị thủ lãnh người Mông Cổ này đặt tên nhà Đại Nguyên, cũng giống như tên Đại Liêu, bao gồm trọn cả thiên hạ. Nhà Đại Minh thừa hưởng gia tài đế quốc do các con cháu Thành Cát Tư Hãn lập ra, khiến thiên hạ của người Trung Hoa rộng hơn đời Tống gấp bội.

Khi một vị thủ lãnh Mãn Thanh tuyên chiến với vua nhà Minh, ông cũng nhân danh khái niệm Thiên Hạ. Ông ta giải thích rằng “trong thiên hạ từ các loài côn trùng đến con người đều là do trời đất sinh ra, không phải của riêng ai;” cho nên ông vua Minh nên nhường ngôi cho mình. Đời sau, vua Ung Chính nhà Thanh muốn bác bỏ “óc kỳ thị” của những “người Hán yêu nước quá khích” và “phân biệt chủng tộc,” ông đã viện dẫn những khái niệm Mệnh Trời, Thiên Hạ, để biện minh việc người Mãn cai trị tất cả năm sắc dân, trong đó có người Hán. Dân Trung Hoa  chịu phục tùng triều đại Mãn Thanh vì quan niệm thiên hạ đó; trong khi nhà Mãn Thanh tự coi họ khác chủng tộc với người Hán.

Một nhà Nho nước ta là Ngô Thì Nhậm đã dùng lý lẽ này để phản bác ý kiến viên tổng đốc Lưỡng Quảng. Khi vua Quang Trung gửi thư cầu hôn công chúa bên Tàu, Phúc Khang An ngăn cản, nói rằng người Mãn có lệ không lấy người ngoại quốc; như điều luật nói “Mãn Hán không được lấy nhau.” Theo Nguyễn Duy Chính, đây đúng là một luật lệ của nhà Thanh, nhằm bảo vệ tính tôn quý của Mãn tộc; kéo dài suốt ba trăm năm. Sau khi nhà Thanh đã sụp đổ, vào thập niên 1920 giới thượng lưu người Mãn Châu vẫn còn giữ phong tục không kết hôn với người Hán. Trong cuốn tự thuật Wild Swan (Chim Hồng), tác giả Jung Chang (Trương Nhung, 張戎) kể chuyện một y sĩ người Mãn châu góa vợ muốn cưới một góa phụ trẻ người Hán, nhưng bà đặt điều kiện phải được coi là vợ cả (chính thất). Các con của bà vợ trước phản đối, xin ông chỉ đặt bà mới làm vợ thứ mà thôi. Lý do họ nêu ra là một người Mãn ở địa vị của ông không được phép lấy một người gốc Hán làm vợ “chính thất.” Người con trai trưởng đã tự sát trước mặt cha và các em chỉ để phản đối quyết định của bố; cho thấy phong tục “không kết hôn với người Hán” còn ảnh hưởng rất mạnh.

Khi Ngô Thì Nhậm nghe Phúc Khang An từ chối việc cầu hôn vì vua Việt Nam không phải người Mãn, ông vin vào luật trên mà đáp lại rằng người Việt vốn không phải người Hán, không cần theo lệ đó. Ông cũng nói thêm rằng theo luật nhà Thanh thì người Việt ngang hàng với người Mãn. Nước Việt cũng là một nước “phên giậu bên ngoài” của Đại Thanh không khác gì người Mông Cổ. Mà dân Mông Cổ thì vẫn được Thanh triều xếp hạng ngang với giống người Nữ Chân ở Mãn Châu. Cho nên, người Việt cầu hôn người Mãn không trái luật! Biện luận rằng người mình ngang người Mãn Châu và người Mông Cổ, Ngô Thì Nhậm cũng xác định người Việt khác hẳn người Hán.

Người Mãn Châu từng lập ra những triều vua nhà Liêu, nhà Kim, từng khuynh loát cả vua Đường, vua Tống; đến thế kỷ 17 thì họ làm chủ cả Trung Quốc. Nhưng cũng vì thế mà sau khi “thống nhất thiên hạ,” chính dân tộc Mãn đã bị đồng hóa, tan biến vào trong biển người Trung Hoa! Khi dùng khái niệm Thiên Hạ để cai trị Trung Quốc, các ông vua Mông Cổ, Mãn Thanh đã mặc nhiên xóa bỏ luôn biên giới của chính đất nước và dân tộc họ. Bởi vì họ đã học và sử dụng một khái niệmchính trị do người Hán đặt ra, được người Hán giải thích, quy định cách thực hiện. Họ bị rơi vào một cái bẫy văn hóa, tư tưởng. Cũng giống như trong thế kỷ 20 nhiều người đi theo một “chủ nghĩa quốc tế” rồi tự biến nước mình thành lệ thuộc vào một nước lớn, vì cả hai đều cùng theo một chủ nghĩa quốc tế!

Chính vì người Mông Cổ, Mãn Thanh thời trước chưa gây được một ý thức về dân tộc sớm như người Việt Nam; cho nên dễ bị cuốn hút vào trong cái bẫy văn hóa đó; tổ tiên người Việt thoát khỏi. Về sau, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc cũng như Trung Cộng nhân đó đã thâu tóm tất cả “năm sắc dân” vào một quốc gia. Dân Mông Cổ phải thu về một vùng đất của tổ tiên bên ngoài vùng sa mạc. Còn dân Mãn Thanh thì hoàn toàn mất nước! Dân tộc Việt Nam may mắn; trong thời Bắc thuộc không nhà lãnh đạo gốc Việt nào theo chủ nghĩa quốc tế của người Hán, không ai nuôi tham vọng làm chủ cả “thiên hạ.”

Trong lịch sử, các vị vua Việt Nam thường chịu thần phục vua Tầu, nghĩa là tự nhận là phận dưới, không dám tranh giành danh xưng hoàng đế với các ông vua ở Trường An (đời Hán, Đường) hay Bắc Kinh (từ đời Nguyên). Nhưng ngoài những việc cống tiến giống như các nước nhỏ khác ở chung quanh nước Tầu, vua nước Nam vẫn tỏ ra không khuất phục. Quân Mông Cổ trên đường chinh phục thế giới thường bắt vua các nước nhỏ phải tới trình diện với Đại Hãn, nếu không sẽ bị tấn công, thành bị chiếm, dân bị giết. Nhưng các vị vua nhà Trần đã từ chối, không phải một lần mà nhiều lần. Có lúc vua Trần ngỏ ý muốn chấp nhận đi triều bái để tránh cho dân khỏi bị họa binh đao, nhưng Trần Hưng Đạo đã phản đối, với một câu nổi tiếng: Xin chém đầu tôi trước đã! Cuối cùng nhà Nguyên cũng phải bỏ yêu sách đó. Trong cùng thời gian này, vị vua nước Miến Điện cũng từ chối không gửi con sang Bắc Kinh, nước họ cũng bị quân Mông Cổ xâm lăng ba lần đẫm máu như nước ta, nhưng cuối cùng họ cũng không mất nước.

Người Uyghur không may mắn như người Việt. Họ vốn là một dân tộc cường tráng, thuộc giống Đột Khuyết (Turk, hay Thổ) ở vùng Trung Á. Người Thổ Phồn cũng dũng mãnh như người Mông Cổ, đã từng đóng vai chủ soái các bộ lạc du mục khác ở phía Bắc nước Tầu. Nhiều đạo quân Thổ đã chiếm và làm chủ Ba Tư (Iran bây giờ), làm chủ cả khoảng trống sau khi đế quốc của Alexander tan rã. Họ đã từng lập các triều đại lừng lẫy thống trị lục địa Pakistan, Ấn Độ. Người Đường gọi dân Uyghur là Hồi Hột (回紇) nhưng bị họ phản đối, đổi thành Hồi Cốt (回鶻), đời Nguyên gọi là Duy Ngô Nhĩ (維吾爾), tên gọi còn dùng tới bây giờ. Giống dân Uyghur văn minh rất sớm, họ đã đặt ra một thứ chữ viết riêng sớm hơn các bộ lạc du mục khác; người Mông Cổ khi chưa có chữ viết phải mượn chữ viết của dân Uyghur. Khi Thành Cát Tư Hãn đặt ra những điều luật đầu tiên quy định việc truyền ngôi Đại Hãn cai trị cả đế quốc Mông Cổ, ông phải dùng chữ và tiếng Uyghur để ghi thành văn bản. Đời Nguyên Thế Tổ, các vị lạt ma thông thái mới đặt ra một lối viết riêng để thống nhất ngôn ngữ Mông Cổ. Nhưng ngày nay, người Uyghur chịu thân phận làm một giống dân thiểu số trong tỉnh Tân Cương, lâu lâu lại nổi lên chống chính sách đồng hóa của Trung Quốc và bị đàn áp nặng nề.

Hai triều đại Mãn Châu và Mông Cổ đã góp công mở mang lãnh thổ của Trung Quốc. Nhà Nguyên chinh phục Tây Hạ, chiếm Đại Lý, và suýt nữa thì chiếm cả Việt Nam. Nhà Thanh chiếm Tây Tạng, xóa bỏ bản hiệp ước mà vua nhà Đường công nhận Tây Tạng độc lập vào thế kỷ thứ 8. Những người lãnh đạo của các sắc dân Mông Cổ, Mãn Châu đã nhân danh “thiên hạ” khi bành trướng lãnh thổ. Thành Cát Tư Hãn chinh phục một vùng đất kéo dài từ Cao Ly, bán đảo Sơn Đông, qua các nước Hồi Giáo Trung Á, tiến tới sông Volga, thành phố Kiev (Ukraine bây giờ), qua Châu Âu đến tận Hungary, Ba Lan. Xuống  phía Nam, quân Mông Cổ chiếm Syria, đe dọa Ai Cập. Quay về phía Đông, họ diệt nhà Tống, chiếm toàn thể nước Tầu. Kublai, sau là Nguyên Thế Tổ, chuyển kinh đô của ông từ Karakurum về Bắc Kinh, vì thế lực của ông ở cố đô không mạnh bằng người anh họ. Ông đã mở đầu một quá trình tự đồng hóa, biến người Mông Cổ thành người Trung Quốc. Ttrong triều đình của ông, chỉ dùng các vị thượng thư Mông Cổ, hoặc gốc Tây Tạng, Uyghur, Á Rập, Thổ, không dùng người Trung Hoa làm quan trong triều. Nhưng ông vẫn dùng chữ Hán trong việc cai trị cùng với những pháp chế của các triều đại cũ. Cứ thế, người Mông Cổ bị đồng hóa. Họ may mắn còn giữ được một mảnh đất bên ngoài vùng sa mạc, là nước Cộng Hòa Mông Cổ. Nơi đó đất đai cằn cối, khí hậu khắc nghiệt, người Trung Hoa xưa kia không muốn tới.

Đế quốc dưới tên gọi khác

Thiên Hạ là một khái niệm khác chữ Empire, dịch là Đế quốc. Theo nghĩa thông thường, đế quốc là một nước mạnh thống thuộc các nước yếu hơn. Các Đế quốc La Mã, Đế quốc Ottoman, hay Đế quốc Anh sau này, từng đóng vai bá chủ bao trùm nhiều dân tộc khác. Nhưng không đế quốc nào có hoài bão thống nhất thiên hạ. làm chủ “tất cả mọi thứ dưới bầu trời” như các hoàng đế nước Tầu trong hai ngàn năm! Thiên Hạ bao gồm đất đai, dân cư và sản vật kinh tế, sinh hoạt văn hóa trong đó.

Trong cách người Trung Hoa nhìn cả vũ trụ, chỗ nào cũng phải có trật tự trên dưới. Trên trời (Thiên) thì Ngọc Hoàng Thượng đế cai quản; có Nam Tào, Bắc Đẩu lo việc sổ hộ tịch, sinh, tử. Dưới mặt đất (Địa) là phạm vi quyền hạn của Diêm Vương. Ở dưới nước cũng có vua Thủy Tề. Cho nên ở trong cõi người ta, tất phải có một vị chủ quản cả thiên hạ. Vị hoàng đế Trung Quốc (nước đứng chính giữa) tự coi mình phải gánh trách nhiệm đó. Cho nên, có một ông quan nhà Tống đã giải thích tại sao Tống Thần Tông lại quan tâm, phải đưa quân sang đánh nước Đại Việt: “Phàm Trung Quốc đối với các nước Man Di cũng như thân người có bốn chi (tay chân). … Giao Châu của các ngươi, xa ở cuối trời … là chỗ thừa của tứ chi, ví như một ngón tay, ngón chân của thân người. Tuy một ngón bị đau, Thánh nhân lại không nghĩ đến hay sao?” Ông quan nhà Tống coi nước Đại Việt như một “ngón chân thừa” của nước Đại Tống. Nhiều ông vua Tàu đời sau cũng nghĩ như vậy!

Các vị hoàng đế đời Đường coi các sắc dân trên khắp thế giới đều là “thần dân,” nếu họ chịu “xưng thần” với vua Đại Đường. Làm Thiên tử thì phải lo cho dân, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo. Cho nên, muốn chứng tỏ mình ngồi ở địa vị cao quý nhất, Huyền Tông nhà Đường đã cho xây cả các đền thờ Hồi Giáo và Cảnh Giáo (Nestorian, 景教, một ngành Thiên Chúa Giáo) ở kinh đô Trường An; ngày nay vẫn còn di tích. Ông vua Đường bày tỏ thái độ bao dung với các tôn giáo; vì ông tự coi mình ở ngôi vị cao hơn tất cả các sắc dân, với những tín ngưỡng của họ. Vua nhà Đường mở rộng cửa kinh đô cho đủ các tôn giáo ngoại lai, lại giúp họ có nơi thờ phương; vì lòng tự tôn sẵn sàng coi mọi người trong bốn bể đều là thần dân của thiên tử.

Người Trung Hoa  nghĩ rằng tất cả mọi người trong thiên hạ đều có thể được “giáo hóa,” cuối cùng sẽ sống theo nền văn minh Trung Hoa! Ngay cả người Do Thái, một dân tộc sống xiêu bạt mấy ngàn năm, nhưng đi tới đâu cũng cố giữ tôn giáo, phong tục của họ. Nhà văn Lâm Ngữ Đường nói về khả năng đồng hóa của nền văn minh Hoa Hạ, đã nhắc tới hiện tượng những người Do Thái di cư sang vùng Hà Nam, sau nhiều đời đã hoàn toàn bị đồng hóa; ngày nay không còn dấu vết Do Thái nào nữa. Ông nhận xét: “Đó là việc ở Tây phương không hề có.”

Lịch sử Trung Quốc không phải là lịch sử một dân tộc, một quốc gia. Đó là quá trình bành trướng của một nền văn minh có sức sống mãnh liệt. Trung Quốc không phải là một “nước.” Đó là một tập hợp lớn, một “Thế giới Trung Hoa.” Các hoàng đế Trung Quốc mở rộng lãnh thổ, chinh phục các sắc dân khác; theo cách nhìn thời nay thì họ đã thành lập các đế quốc. Với khái niệm Thiên Hạ, họ có thể che đậy, hóa trang đế quốc của họ dưới một hình ảnh khác, cũng không khác gì chiêu bài “khai hóa văn minh” của các đế quốc phương Tây khi đi chinh phục thế giới.

Triệu Đinh Dương công nhận người Trung Hoa đời xưa không nghĩ họ là một dân tộc. Mãi đến khi quân Thanh thua trận Chiến tranh Nha phiến (1840) tinh thần dân tộc của người Trung Hoa mới bồng bột phát sinh. Họ cảm thấy đang phải chịu một nỗi nhục chung và cùng là nạn nhân của một triều đình bất lực, thối nát. Từ đó, các phong trào cách mạng nhấn mạnh rằng vua quan nhà Thanh là người ngoại quốc, không thuộc dân Hán. Về điểm này dân Trung Hoa khác hẳn người mình. Người Việt là một dân tộc nhỏ hơn, thuần nhất hơn. Nhờ thế mà tổ tiên chúng ta đã có ý thức mình là một dân tộc rất sớm; có thể từ trước, trễ nhất là lúc bắt đầu thời Bắc thuộc. Nhờ thế tinh thần chống ngoại xâm rất cao.

Khái niệm về quốc gia (nation-state) chỉ xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc sau cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911. Ba đơn vị xã hội chính trong truyền thống Trung Hoa là Gia, Quốc, rồi tới Thiên Hạ. Chữ “quốc” (国, state) trong bộ ba này, như Tề quốc, Sở quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng không giống nghĩa hai chữ “quốc gia” bây giờ. Vì các nước chư hầu đời nhà Chu không xác định “lãnh thổ” và “dân tộc;” cũng không xác định “chủ quyền quốc gia” theo quan niệm đời nay. Vào thời Chiến Quốc, mỗi nước chư hầu có thể so sánh với những “thành thị quốc gia, city-state” Hy Lạp cổ.

Triệu Đinh Dương cũng nhận xét hai chữ Thiên Hạ không giống với khái niệm “đế quốc” ở Tây phương, như khi người ta nói tới Đế quốc Ottoman hay Đế quốc Anh. Vì người Trung Hoa đời trước không dùng một định chế với nội dung của khái niệm đó. Tương quan giữa ông vua lớn và các ông vua nhỏ, giữa dân bị trị và những người thống trị, trong “thiên hạ;” là một thứ liên hệ về trật tự tinh thần; nhiều hơn là quan hệ hành chánh, quân sự hoặc kinh tế, như trong các đế quốc ở phương Tây. Theo Triệu Đinh Dương, văn chương Trung Hoa lần đầu tiên dùng hai chữ Đế Quốc là trong thơ Vương Bột đời Đường. Hai chữ đó chỉ có nghĩa giản dị là “lãnh thổ của hoàng đế,” theo nghĩa đế (帝) là ông vua và quốc (国) là đất nước. Các học giả người Nhật vào thế kỷ 19, khi cần dịch chữ Empire đã dùng từ Đế Quốc; sau người Trung Hoa dùng theo. Khi thua trận năm 1895, nhà Thanh phải ký hiệp ước Mã Quan nhượng bộ Nhật Bản, hai chữ Đế Quốc mới được chính thức sử dụng (phía Nhật xưng danh hiệu vua nước họ là Đại Nhật Bản Đế Quốc đại hoàng đế; vua nhà Thanh cũng tự xưng Đại Thanh Đế Quốc đại hoàng đế; cho tương xứng). Từ đó, trong ngôn ngữ Trung Hoa mới dùng hai chữ Đế Quốc giống như nghĩa chữ Empire ở Tây phương.

Người Hán cũng không phải là nguồn gốc duy nhất của nền văn minh Trung Hoa. Khi Trung Quốc bắt đầu thống nhất, các định chế chính trị thành hình sau được Khổng Tử coi là khuôn mẫu; cũng không phải do người dân Trung Nguyên xướng xuất. Triệu Đinh Dương nhắc lại những nhân vật lịch sử như Vua Thuấn, Chu Văn Vương, Đường Thái Tông đều là người gốc ở ngoài biên ải của “Trung Quốc.” Họ lật đổ triều đại cũ, chiếm đoạt quyền hành, cai trị thiên hạ. Một sức mạnh của văn minh Trung Hoa là họ thâu nhận dễ dàng các nguồn lực văn hóa từ bên ngoài mà không kỳ thị; có thể thấy đó là một tinh thần bao dung xuất phát từ lòng tự tôn. Khi Lâm Ngữ Đường nói dân Trung Hoa đã được các sắc dân biên ngoại “tiếp máu,” chắc ông chưa muốn nói tới việc tiếp máu văn hóa; như những Lý Bạch, hay Bồ Đề Đạt Ma, những di dân từ “biên ngoại” đã hội nhập và góp phần làm cho nền văn hóa đó đẹp đẽ hơn.

Theo Triệu Đinh Dương thì yếu tố quan trọng nhất trong khái niệm Thiên Hạ là con người và văn hóa chứ không phải đất đai, của cải. Thiên Hạ không phải chỉ là mặt đất mà là mặt đất và loài người, với các định chế luân lý, chính trị do con người đặt ra.

Ông đã dẫn chứng lời Kinh Dịch, Thoán Truyện: “Quan sát trên trời để thấy thời biến; quan sát nhân văn để hóa thành thiên hạ,” (Quán hồ thiên văn dĩ sát thời biến; quán hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ, 觀乎天文, 以察 時變,觀乎人文 以化成天下) .

Ông cũng dẫn lời Sái Ung (132 – 192): “Thiên tử không coi cái gì là ở ngoài quyền hạn của mình; (và) coi Thiên hạ là nhà mình” (Thiên tử vô ngoại, dĩ thiên hạ vi gia, “天子無外,以天下爲家). Theo cách diễn tả này, gia và quốc là hai định chế trung gian nằm trong một định chế lớn bao gồm toàn thế giới. Nhiệm vụ thiên tử là giữ cho thiên hạ bình trị, giống như lo cho chính gia đình mình vậy. Đây là một quan niệm về “Trật tự thế giới” theo người Trung Hoa.

Người học chữ Nho ngày xưa đều thuộc lòng một câu trong Tam Tự Kinh: “Tam Tài giả: Thiên, Địa, Nhân.” Quan niệm Tam Tài cho thấy người Trung Hoa nhìn cả vũ trụ như là một vũ trụ trong liên hệ với con người, chứ không phải là một vũ trụ vật lý, khách quan. Triệu Đinh Dương viết: “Với chữ Thiên Hạ chúng ta thấy một dự phóng văn hóa trong đó cả thế giới cùng chung một định chế. Nó bao hàm ý tưởng thế giới phải có một định chế chung, nếu không thì không gọi là thế giới mà chỉ là đất đai hoang dã, trừu tượng.” Ông đề nghị nên hiểu hai chữ Thiên Hạ như một “mẫu lý tưởng,” theo nghĩa chữ Hy Lạp eidos trong tư tưởng Platon; để có thể dùng khái niệm này trong chính trị học bây giờ. Nhưng đối với các vua chúa Trung Hoa thì trước hết, thiên hạ là một định chế chính trị, phải có chủ; giống như trên bầu trời phải có mặt trời. Phải có người “chịu mệnh trời” chăm lo cho tất cả thiên hạ. Và các hoàng đế Trung Hoa sẵn sàng lãnh trách nhiệm đó, dù thiên hạ có muốn hay không!

Làm chủ thiên hạ

Vì Thiên Hạ là mặt-đất-cộng-với-người, cho nên, theo quan niệm truyền thống Trung Hoa một vị hoàng đế chỉ “có thiên hạ” khi được lòng người quy phục, Đắc Dân,” như Triệu Đinh Dương giải thích. Kinh Dịch viết rõ: “Vua Thang, vua Vũ làm cách mạng, thuận theo trời mà đáp lại lòng dân” (Dịch Truyện: Thang Vũ cách mệnh, thuận hồ thiên nhi ứng hồ dân, 易傳: 湯武革命, 順乎天 而應乎人). Hai chữ “cách mệnh, 革命” được dùng lần đầu có lẽ từ trong cuốn sách cổ này. Lão Tử, trong chương 57 Đạo Đức Kinh cũng viết: “Một ông vua có thể cai trị nước bằng mệnh lệnh, thắng trận bằng mưu lược, nhưng chỉ được thiên hạ bằng chính sách vô sự,” vô sự tức là không làm gì thiệt hại tới đời sống tự nhiên và lợi ích của người dân (Dĩ chính trị quốc, dĩ kỳ dụng binh, dĩ vô sự thủ thiên hạ, 以正治國, 以奇用兵, 以無事 取天下).

Triệu Đinh Dương còn dẫn sách Mạnh Tử (372-289 TCN) trong chương Dân Vi Quý, viết: “Dân là quý, xã tắc đứng sau, vua là nhẹ. Cho nên được dân là điều kiện để làm thiên tử.” (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Thị cố đắc hồ khâu dân nhi vị thiên tử –  孟子/民爲貴章: 民 爲貴, 社稷 次之, 君爲輕。是故得乎 丘民而 爲天子). Trong chương Thất Thiên Hạ, Mạnh Tử nói rõ hơn: “Hai vua Kiệt, vua Trụ mất thiên hạ là vì mất dân, mất dân là vì mất lòng dân.” (Kiệt Trụ chi thất thiên hạ dã, thất kỳ dân dã; thất kỳ dân dã, thất kỳ tâm dã; 失天下 也章:桀紂之失天下也, 失其民也, 失其民也失其心也).

Trong sách Đại Học, rút một chương từ sách Lễ Ký, cũng viết: “Được dân chúng là được nước, mất dân chúng là mất nước.” (Đắc chúng tắc đắc quốc; thất chúng tất thất quốc; 禮記/大學: “得衆則得國 失衆則 失國”). Nhà Nho một đời sau giải thích thêm. Sách Tuân Tử (Xun zi, 荀子, 313-238 TCN), thiên Vương Bá viết, “Được thiên hạ không có nghĩa là nhận được đất đai người ta bắt buộc phải dâng cho, mà khi theo đúng đạo thì mọi người đều theo.” (Thủ thiên hạ giả, phi phụ kỳ thổ địa nhi tòng chi chi vị; đạo túc dĩ nhất nhân nhi dĩ hĩ; 荀子/王霸: 取天下者非 負其土地 而從之之謂 道足以壹人 而已矣). Trong tất cả các câu dẫn chứng trên đây, người muốn làm chủ thiên hạ thì phải được lòng dân. Vị hoàng đế chính thống là nhờ được dân chọn theo chứ không phải vì họ cướp được chính quyền bằng vũ lực.

Trong thực tế, các hoàng đế Trung Hoa có theo những điều kiện trên khi “được thiên hạ” hay không? Thường là không. Vì trước đây hai, ba ngàn năm trong xã hội cổ truyền người ta vẫn chưa thiết lập được những định chế để bảo đảm các ông vua làm theo đúng “lòng dân,” như Mạnh Tử hay Tuân Tử yêu cầu. Nếu không có gì ràng buộc và hạn chế quyền của ông vua thì làm sao tin được là họ sẽ theo đúng lời Thầy Mạnh?

Các nền văn minh khác trên thế giới phần lớn cũng thiếu sót như vậy. Phải đợi tới thế kỷ 18, 19 loài người mới bắt đầu đặt ra các định chế bảo đảm có được những “chính phủ của dân, do dân và vì dân;” vì người cầm quyền bị ràng buộc bằng pháp luật. Đó là những định chế như phổ thông đầu phiếu, phân tản quyền hành, bảo đảm quyền công dân và quyền con người được luật pháp tôn trọng, vân vân. Có một “định luật chính trị” của Thomas Schelling, nói rằng, “Chúng tôi chỉ có thể tin ông nếu chúng tôi có khả năng kiện được ông ra tòa.” Các định chế dân chủ tự do đều nhằm cho người dân cái quyền giám sát người cai trị, giống như có quyền đưa người cai trị ra trước một tòa án. Đó là hiến pháp, luật pháp, đặt ra với mục đích giới hạn quyền hành của người cai trị.

Các vị hoàng đế Trung Hoa đời xưa không bị ràng buộc như thế. Thời xưa, muốn thể hiện đúng lòng dân một nước rộng như nước Trung Hoa cũng rất khó. Làm sao ông vua biết được ý mọi người trong thiên hạ muốn gì? Khi dân không được bỏ phiếu thì chỉ có cách đoán mò, dùng mu rùa hay xương gà mà bói. Hay là xem có động đất, thiên tai, hay mưa thuận gió hòa để mà đoán xem “lòng trời” nghĩ thế nào, giả thiết ý trời phản ảnh ý dân. Cuối cùng, ông hoàng đế hay ông vua toàn quyền giải thích ý trời. Vì ông ta cũng độc quyền làm lễ Nam Giao, tức là tiếp xúc thẳng với Ông Trời, tự xưng mình là Con Trời. Trong chế độ quân chủ chuyên quyền, người dân phải “tham dự một cuộc sổ số,” mà kết quả lành dữ chỉ do một hiện tượng sinh học quyết định. Nếu cha mẹ ông vua truyền cho ông ta những hạt giống hiền lành tử tế thì dân trúng số! Nếu đó lại là những hạt giống ác, thì dân may nhờ, rủi chịu

Trong hơn 2000 năm các vị hoàng đế Trung Hoa cũng nhân danh khái niệm Thiên Hạ khi tiếp xúc với lân bang, đối đãi với các dân tộc sống chung quanh Trung Quốc. Tổ tiên người Việt chắc từ đời Sĩ Nhiếp chắc đã được dậy về khái niệm Thiên Hạ và chủ trương thiên hạ là của chung. Trong tiếng Việt, hai chữ Thiên Hạ cũng rất phổ thông, nhưng được dùng với những ý nghĩa hoàn toàn đổi khác; chứng tỏ một tinh thần đối kháng. Khi một ông vua người Việt nói tới chữ Thiên Hạ thì thường dùng theo hai nghĩa khác nhau. Nếu nói cho dân chúng nghe, thì “Thiên Hạ” nghĩa là “cả nước ta;” thu gọn trong một nước thôi chứ không gồm tất cả thế giới. Trần Thái Tông, thuật lời Quốc sư Phù Vân núi Yên Tử, khuyên ông nên trở về ngôi: “Người làm vua là chủ thiên hạ. Hãy lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình.” Thái tông nói “tâm thiên hạ” với nghĩa là lòng mong mỏi của mọi người dân trong một nước; chứ không hiểu rộng hơn. Vua chúa người Việt ít khi dùng hai chữ Thiên Hạ theo nghĩa lớn rộng; không ai muốn cạnh tranh với ông Con Trời ở bên Tầu.

Nhưng trong dân gian, người Việt hay dùng từ Thiên Hạ với ý nghĩa không liên can gì tới nguồn tên gốc cả. Người bình dân nói “thiên hạ” với ý là “người ta,” “người khác,” không phải mình. Có khi nói “thiên hạ” để chỉ đến những thứ “không liên can gì đến chính mình.” Chẳng hạn: “Ai rảnh hơi mà đi bàn chuyện thiên hạ?” Hoặc “Việc thiên hạ mình lo làm gì?” Trong lối nói đó, có thể hàm chứa một thái độ từ chối, muốn tránh xa, muốn đứng ngoài khái niệm mà người Trung Hoa muốn áp đặt.

Với thái độ coi “việc thiên hạ” không phải của mình như vậy, các người lãnh đạo triều đình Việt Nam đời xưa đã khôn ngoan không “cạnh tranh nhãn hiệu” (tên gọi) với các ông vua bên Tàu. Khi giao dịch, các vị vua Việt Nam còn tự xưng mình là “thần,” tức là bày tôi, phận dưới. Đời Trần, sau khi đánh đuổi quân Nguyên ba lần, nhà vua còn “dâng biểu” tự gọi mình là “vi thần,” chữ “vi” nghĩa là nhỏ xíu, nhỏ li ti. Ông vua tự hạ mình xuống như vậy để “xin cầu phong,” vuốt ve tự ái của ông vua Tầu, mà không thiệt hại gì cho đất nước; cũng vì muốn cứu dân. Nhưng không ai có thể nghĩ một vị vua Việt Nam xưng thần như vậy đã làm giảm giá trị, mất thể thống của nước mình cả; vì họ vẫn cương quyết không nhường một tấc đất, một hòn đảo nhỏ nào cho chính quyền Trung Quốc.

 

__________________________________________________________

Trích “Đứng Vững Ngàn Năm” của tác giả Ngô Nhân Dụng, tức Cư sĩ Chân Văn Đỗ Quý Toàn. Người Việt Books xuất bản, 2013. Giấy Vụn, 2014

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s