Trong bài Kinh Thập thượng (Dasuttara sutta), đức Phật dạy “Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.”
Trong hành trình khám phá bản thân và phát triển tâm linh, một điểm then chốt đó là việc phải đối mặt và từ bỏ quan niệm khó dời chuyển về “Ngã mạn” hay cái gọi “Tôi là.” . Khái niệm này, thường được gọi là “cái tôi” hoặc “kiêu ngạo tự thân”, không chỉ là một lời nói định danh ở cửa miệng; nó là nguồn gốc của sự chia rẽ, hiểu lầm và đau khổ.
Ngay từ cái nhìn đầu tiên, ý tưởng từ bỏ ngã mạn ‘Tôi là’ có vẻ như một lời nhắc nhủ tự xóa bỏ hoặc phủ nhận tính độc đáo của bản thân. Tuy nhiên, thực tế có lẽ hoàn toàn ngược lại. Quá trình này chính là việc vượt qua cái nhìn hạn hẹp về bản thân như một thực thể tách biệt, khác biệt và cô lập khỏi phần còn lại của sự tồn tại. Đó là sự mở rộng thành một cảm nhận tồn tại bao quát và liên kết hơn.
Trong cuộc sống hàng ngày, cái ngã ‘Tôi là’ biểu hiện dưới nhiều hình thức – như cái tôi, sự tự phụ, hoặc một sự theo đuổi không ngừng nghỉ vì những lợi ích cá nhân, như những con sóng hình thành từ thấp lên đỉnh cao, rồi vỗ vào ghềnh đá, tan thành bọt nước trắng. Sự tập trung vào bản thân thường dẫn đến cảm giác cạnh tranh, cô lập và xung đột. Cái ta có thể nghiện những cảm giác đó. Ví dụ, khi chúng ta làm việc với quan điểm ‘Tôi tốt hơn’ hoặc ‘Tôi khác biệt’, chúng ta tạo ra những rào cản, cả bên trong chúng ta và với người khác. Trong lòng im tiếng khi sự kiêu ngạo này tan biến, và ta mở đường cho lòng thương tha nhân, sự đồng cảm và cảm giác kết nối hơn.
Tuy nhiên, thách thức nằm ở bản chất “bản tánh khó dời” của cái “Tôi là” này. Từ khi còn nhỏ, mỗi cá nhân được dạy để khẳng định danh tính của mình, để phân biệt bản thân và hình thành sức mạnh cạnh tranh. Mặc dù những đặc điểm này thường có giá trị cho sự sống còn và thành công về mặt vật chất, chúng có thể phản tác dụng trên con đường tâm linh. Từ bỏ kiêu ngạo ‘Tôi là’ đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong quan điểm – từ tập trung vào cái tôi sang việc chấp nhận quan điểm toàn diện hơn về cuộc sống.
Sự thay đổi này không phải là để giảm thiểu giá trị hoặc khả năng của bản thân mình, mà là nhận ra tính chất phù du của cái tôi. Trong nhiều truyền thống tâm linh, khái niệm về bản thân được xem là một cấu trúc thay đổi liên tục, không ổn định, được hình thành bởi trải nghiệm, suy nghĩ và điều kiện xã hội. Việc hiểu được sự phù du này nuôi dưỡng và tăng trưởng hạnh khiêm cung và mở ra cá nhân cho dòng chảy của cuộc sống, tự do khỏi những ràng buộc cứng nhắc của cái tôi.
Hơn nữa, sự chuyển hóa này có những kết quả sâu rộng đối với cách mà một người tương tác với thế giới. Khi trọng tâm chuyển từ ‘Tôi là’ sang ‘Chúng ta là’, hành động trở nên vị tha hơn, và mối quan hệ trở nên sâu đậm hơn. Cá nhân không còn hành động chỉ vì lợi ích cá nhân mà như một phần của một tổng thể lớn hơn, liên kết hơn. Cảm giác đồng nhất này mang lại sức mạnh tâm linh lớn hơn bất kỳ thành tựu nào do cái “tôi là” thúc đẩy.
Trên thực tế, việc từ bỏ ngã mạn ‘Tôi là’ là một hành trình cả một cuộc đời. Nó bao gồm việc tự quán chiếu mỗi giây phút sống, trở về trong hiện tại, và nuôi dưỡng lòng từ bi. Đó là con đường nhận ra và từ bỏ những lớp danh sắc đang ngày một tách chúng ta dần xa ra khỏi sự thật về sự tồn tại liên kết của người với người.
Học “Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.” – chúng ta càng hiểu sâu hơn con đường Phật dạy. Từ bỏ ngã mạn ‘Tôi là’ là một quá trình chuyển hóa, cốt lõi của sự phát triển tâm linh. Đó không phải là mất đi bản thân mình mà là khám phá một cảm nhận tồn tại sâu sắc hơn, liên kết hơn. Sự chuyển hóa từ cuộc sống tập trung vào cái tôi sang một phương thức toàn diện, đồng cảm hơn không chỉ là một thành tựu cá nhân mà còn là một bước tiến hướng tới một thế giới hòa hợp và giàu lòng trắc ẩn hơn.
“Khi biết ta là ai
Sẽ thẹn thùng biết mấy
Xưa nay ta mệt nhoài
Chỉ tự mình lay hoay!”
(Sư Cô Hạnh Huệ – Viên Chiếu)
Nguyên Túc Nguyễn Sung

