Site icon Sen Trắng

BHD/GĐPTVN/HK: Điện Thư Phân Ưu: Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn

TIỂU SỬ VÀ CÔNG HẠNH
ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN TÔN

Pháp danh: Như Kế – Pháp tự: Giải Tích – Pháp hiệu: Huyền Tôn
Sinh năm Mậu Thìn (1928), làng Châu Nhai, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam
Viên tịch ngày 09 tháng 09 năm 2026, nhằm ngày 28 tháng 07 năm Bính Ngọ, tại Chùa Bảo Vương, Melbourne, Victoria, Úc Đại Lợi

Trụ thế 99 năm – Hạ lạp 78 hạ

Một đời, giữa dòng vô thường, dài ngắn vốn chỉ như bóng câu qua cửa. Nhưng một đời xuất gia, nếu giới đức đã thành phong, học hạnh đã thành ánh sáng, công phu đã thấm vào Tăng đoàn và đạo nghiệp đã gieo được hạt giống cho người sau, thì năm tháng tuy qua mà dấu chân chưa hẳn mất. Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, từ quê nhà Quảng Ngãi đến Melbourne nơi viễn xứ, từ Tổ đình Thiên Ấn đến những đạo tràng Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu, cuộc đời Ngài trải gần trọn một thế kỷ, đi qua nhiều biến thiên của đất nước, của Phật giáo và của cộng đồng người Việt hải ngoại; song giữa bao cuộc thịnh suy, điều nhất quán vẫn là chí nguyện của một bậc xuất trần thượng sĩ: trọng giới pháp, chuyên học, hành trì, giáo hóa và phụng sự Tam Bảo.

Đức Trưởng lão Hòa thượng sinh năm Mậu Thìn, 1928 (tư liệu Quảng Đức cũ ghi Việt lịch 4807), tại làng Châu Nhai, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài là đệ tử của Đệ Lục Tổ sư Thiên Ấn Tự, Hòa thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh, đời thứ 41. Thân phụ là Đại sư Thích Như Quý (1874–1942), bán thế xuất gia, có học phong và thâm duyên Phật pháp; thân mẫu là Cụ bà Thái Thị Túc (1891–1945), pháp danh Như Chỉnh, tự Giải Lý. Sinh trưởng giữa một gia đình thấm nhuần Nho học và Phật học, Ngài sớm gần chữ nghĩa, kinh điển và nếp sống thiền môn. Năm 1931, mới ba tuổi, Ngài đã được song thân cho học chữ Nho qua các sách như Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Tâm Bảo Giám, Gia Huấn; đến năm 1933, năm tuổi, được thân phụ dạy thuộc hai thời công phu và bộ luật Tỳ-ni, đồng thời học một số bài võ cổ truyền. Cái học thuở đầu ấy vừa có văn, có võ, vừa có kinh luật làm nền; về sau kết thành phong thái đặc thù nơi Ngài: văn học không lìa đạo, học pháp không rời hành trì, mà hành đạo cũng chẳng xa cội nguồn văn hóa dân tộc.

Năm Giáp Tuất, 1934, khi vừa lên sáu tuổi, Ngài cùng thân phụ phát tâm xuất gia tại Tổ đình Thiên Ấn, Quảng Ngãi, được Hòa thượng Tăng Cang Thích Chơn Trung tế độ và ban pháp danh Như Kế. Bậc Bổn sư của Ngài vốn uyên thâm Nho học, tinh thông khoa Du-già và kinh điển Đại thừa, lại có công khai sơn, trùng tu nhiều tự viện ở Quảng Ngãi. Trong bóng Tổ đình ấy, chú tiểu Như Kế lớn lên giữa thanh quy, tiếng mõ và nếp học nghiêm mật của Sơn môn. Năm Tân Tỵ, 1941, mười ba tuổi, Ngài thọ giới Sa-di tại Giới đàn Viên Giác, được ban pháp tự Giải Tích. Tư liệu Quảng Đức ghi từ năm 1941 Ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên, giai đoạn 1941–1945, với Giáo thọ sư Hòa thượng Quy Thiện; về sau tiếp tục học tại Phật học đường Viên Giác, trong đó có mốc năm 1958 được ghi lại trong hành trạng.

Năm Ất Dậu, 1945, mười bảy tuổi, Ngài được Hòa thượng Tăng Cang cung cử làm Thủ tọa Chùa Viên Giác, thay vị Trụ trì đã hồi hương. Giữa một giai đoạn nhiều xáo trộn, Ngài vận dụng tinh thần Lục hòa để điều hợp sinh hoạt tự viện, hóa giải những nếp quyền hành cố kết nơi các chức sự, đưa đời sống Già-lam trở về sự bình đẳng và hòa kính. Từ 1945 đến 1947, Ngài trải nhiều lao khổ trong việc bảo vệ Tăng chúng và Chùa Viên Giác giữa biến động thời cuộc. Về mốc thọ Cụ túc giới, các tư liệu hiện lưu có sai biệt một năm: bản hành trạng hiện dùng ghi Đinh Hợi, 1947, trong khi bài tiểu sử Quảng Đức năm 2011 ghi Mậu Tý, 1948, tại Giới đàn Viên Giác, khi Ngài hai mươi tuổi, và được ban pháp hiệu Huyền Tôn. Dù sai biệt về niên đại cần tiếp tục khảo chứng, các nguồn đều nhất quán rằng từ đây đời sống Ngài gắn chặt với giới luật, kinh điển, Hán học và thanh quy thiền môn.

Trong những năm 1947–1951, tiếp mật chỉ của Hòa thượng Huyền Quang về việc thành lập Phật giáo Liên khu 5, Ngài đi bộ vào Tổ đình Thập Tháp cùng chư Tôn đức Huyền Quang, Giác Tánh, Tâm Hoàn, Bảo An, Kế Châu, Như Thắng, Như Phẩm, Đồng Từ, Thiện Duyên và nhiều vị khác hình thành một đoàn Thanh Niên Tăng gồm mười hai vị để thăm viếng tự viện và hoằng pháp từ miền duyên hải đến vùng sơn cước. Theo tư liệu Quảng Đức, trong khoảng một năm bốn tháng, riêng những chặng đường qua Bình Định và Quảng Ngãi, Ngài đã nhiều lần đi bộ đường dài, có những hành trình tổng cộng hàng trăm cây số. Năm 1948–1949, sau khóa huấn luyện tại Thập Tháp, Tăng đoàn làm việc ở Chương Hòa, Chùa Thắng Quang, gần biên giới Quảng Ngãi; nhân đó sang hoạt động tám ngày tại hai quận Sa Huỳnh và Đức Phổ, rồi Ngài trở về Quảng Ngãi tiếp tục Phật sự Sơn môn. Từ 1950 đến 1952, Ngài cùng quý Ngài Trí Hữu, Chí Thiện, Quang Thể, Đồng Chơn hoằng pháp tại Quảng Ngãi và Quảng Nam. Năm 1953, Ngài ra Chùa Từ Đàm, Huế, tường trình Phật sự địa phương với Hòa thượng Trí Quang và Hòa thượng Mật Nguyện; cũng trong dịp này, Ngài gặp Hòa thượng Tâm Châu từ miền Bắc mới vào Huế.

Từ 1954 đến 1959, Ngài được công cử làm Tổng Thư Ký Hội An Nam Phật Học, dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Trí Quang, trụ sở đặt tại Chùa Hội Phước, Quảng Ngãi. Tư liệu cũ ghi Sơn môn lúc bấy giờ có 171 vị Tăng, cùng sự tham gia của nhiều cư sĩ hộ pháp. Trong sáu năm đảm trách Phật sự, Ngài đi bộ, xe đạp, xích lô qua bảy quận huyện và hơn năm mươi làng xã của Quảng Ngãi; nhiều lần cùng Tăng đoàn qua lại giữa Quảng Ngãi và Bình Định. Riêng tại Quảng Ngãi, tư liệu ghi nhận Ngài đã góp phần hình thành 25 khuôn hội, mỗi khuôn hội từ khoảng 70 đến 300 hội viên, với tổng số Phật tử được ước tính từ năm đến bảy ngàn người. Song song đó, từ 1954 đến 1960, Ngài làm Giáo sư Phật học tại Phật học đường Bảo Lâm, Mỹ Khê và Phật học đường Kim Liên, Tịnh Giang, Quảng Ngãi. Năm 1958, Ngài tiếp tục việc học tại Phật học đường Viên Giác; đến năm Canh Tý, 1960, tốt nghiệp Cử nhân Hán học thuộc Bộ Giáo dục Quốc gia Việt Nam.

Năm 1960, Ngài trao lại công việc chùa cho Sư huynh Giải Hậu và theo lời mời của Hòa thượng Thích Thiện Hòa, Giám đốc Phật học đường Nam Việt – Ấn Quang, vào Sài Gòn dạy lớp Trung đẳng Phật học cho khoảng sáu mươi Tăng sinh tại Chùa Minh Quang, gần đường Trương Minh Giảng. Từ 1960 đến 1962, Ngài là Giáo sư Phật học tại Phật học đường Quang Minh, Sài Gòn; đồng thời giảng dạy Việt văn tại các trường Trung học Bồ Đề. Cũng trong thập niên 1960, với sở học Hán văn vững vàng, Ngài cùng Hòa thượng Thanh Kiểm tham gia Ban Phiên Dịch Hán Cổ thuộc Ban Tu Thư, làm công việc phiên dịch và biên khảo. Từ giảng đường đến trang sách, từ kinh điển đến văn học, học và hành nơi Ngài chưa từng đứng riêng hai ngả.

Biến cố Phật giáo năm 1963 để lại một dấu ấn sâu trong đời Ngài. Theo bài tiểu sử Quảng Đức, Ngài cùng Thầy Chơn Ngữ mang huyết thư của Ủy Ban Liên Phái đến Tổ đình Ấn Quang, bị phát hiện, bắt giam và chịu đánh đập. Những thương tích của thời đoạn ấy còn lưu lại về sau như một chứng tích của một giai đoạn Phật giáo đầy thử thách. Từ 1964 đến 1974, Ngài là Giảng sư của Viện Hóa Đạo; năm 1965, được cử làm Trưởng Ban Tổ chức Đại lễ Phật Đản Ất Tỵ tại tỉnh Gia Định. Năm Kỷ Dậu, 1969, ở tuổi bốn mươi hai, Ngài được Viện Hóa Đạo tấn phong Giáo phẩm Thượng tọa. Về trọng trách tại Gia Định, bản hành trạng hiện dùng ghi khoảng 1967–1972 Ngài đảm nhiệm Quyền Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Gia Định, trong khi tư liệu Quảng Đức cũ ghi cụ thể 1969–1972 Ngài được Hòa thượng Trí Thủ mời làm Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Gia Định. Cả hai nguồn đều cho thấy Ngài đã trực tiếp gánh vác Phật sự tại địa phương trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970.

Song hành với Phật sự Giáo hội, Ngài có duyên sâu với báo chí, văn chương, dịch thuật và khảo cứu. Từ khoảng 1960 đến 1975, Ngài cộng tác với nhiều tờ báo như Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo, An Lạc, Tin Sớm, Tiền Tuyến, các ấn phẩm Xuân của ngành Thông Tin và một số báo chí đương thời; sử dụng các bút hiệu Lĩnh NamHạo Gia. Ngài soạn lịch Âm Dương, dịch truyện võ hiệp và viết nhiều truyện dài, truyện ngắn, trong đó tư liệu cũ ghi các nhan đề như Kỳ nữ Tố Nga, Chuyện cấm đọc đêm 30, Hùm thiêng ba móng, Con Khỉ khôn và Cá Sấu, Tiếng mõ đêm 30. Chữ nghĩa trong tay người tu, với Ngài, không phải vật trang sức; đó là phương tiện gìn giữ tiếng Việt, bảo tồn văn hóa, chuyển tải đạo lý và nối chiếc cầu giữa học thuật với đời sống.

Sau năm 1975, thời cuộc tiếp tục đưa Ngài vào một khúc quanh khác. Theo bài tiểu sử Quảng Đức năm 2011, ngày 09 tháng 03 năm 1979, Ngài quyết định vượt biển; sau chín ngày lênh đênh, đến trại tị nạn Pulau Bidong, Malaysia, và lưu trú tại đây khoảng một năm hai tháng. Tại Chùa Từ Bi trên đảo, Ngài thành lập Ban Đại diện Phật giáo và đảm nhiệm vai trò Chủ tịch; Thầy Nguyên Hạnh làm Thư ký, cùng chư Tăng Ni tổ chức sinh hoạt Phật giáo và thành lập Gia Đình Phật Tử Long Hoa. Tư liệu cũng ghi Ngài thay mặt tiếp nhận những khoản cứu trợ do Thiền sư Nhất Hạnh gửi đến, đổi sang tiền Mã Lai để phân phát cho đồng bào tị nạn trên đảo. Giữa cảnh tha hương, mái chùa tạm nơi trại nạn trở thành một chỗ nương tinh thần; nơi đó, Phật sự trước hết là làm cho người đang mất quê hương còn có thể giữ được niềm tin, tình người và một chút an ổn trong những ngày lênh đênh chưa biết bến bờ.

Năm 1980, Đại lão Hòa thượng đến định cư tại Melbourne, Úc Đại Lợi, mở sang một chương mới của đời hoằng hóa. Buổi đầu cộng đồng người Việt tại Úc còn non trẻ, tự viện chưa nhiều, sinh hoạt Phật giáo chưa định hình; những bậc Tôn túc đến trước phải vừa làm chỗ nương tâm linh, vừa quy tụ Phật tử, gây dựng cơ sở và đặt nền tổ chức. Năm 1981, Ngài là một trong những vị đồng sáng lập và đảm nhiệm vai trò Hội Trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Victoria; cùng năm, Ngài khai sơn Chùa Đại Bi Quan Âm tại Victoria, cơ sở về sau được tư liệu Quảng Đức ghi là Chùa Quang Minh ngày nay. Năm 1982, Ngài và Hội góp phần bảo lãnh 41 gia đình sang Úc định cư theo diện Phật giáo bảo trợ; đồng thời vận động, can thiệp để 700 trẻ cô nhi không thân nhân được tiếp nhận sang Hoa Kỳ định cư. Những Phật sự ấy cho thấy công hạnh của Ngài không chỉ nằm trên pháp tòa hay trong tự viện, mà còn đi thẳng vào nỗi khổ cụ thể của người tị nạn và những phận người không nơi nương tựa.

Năm 1983, Ngài tiếp tục là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Châu – Tân Tây Lan. Bản hiện hành ghi Ngài đảm nhiệm trọng trách Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo trong giai đoạn 1983–1992 và tham gia công tác báo chí với vai trò Chủ bút Báo Phật Giáo Việt Nam Úc Châu; riêng tư liệu Quảng Đức cũ ghi rõ từ 1983 đến 1987, Ngài là Đệ nhất Phó Viện trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm các lĩnh vực Giáo Luật, Tăng Sự và Hoằng Pháp, đồng thời làm Chủ bút báo trong cùng giai đoạn. Dù cách ghi nhiệm kỳ có khác nhau, hai nguồn đều xác nhận vai trò đáng kể của Ngài trong buổi định hình tổ chức Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu.

Năm 1989, Ngài được cung thỉnh làm Yết-ma A-xà-lê sư tại Giới đàn Phước Huệ. Năm 1992, Ngài kiến tạo Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự, ban đầu được tư liệu ghi tại vùng Essendon, Victoria; về sau Bảo Vương Tự trở thành trụ xứ gắn liền với những năm tháng hành đạo của Ngài tại vùng Ardeer, Melbourne. Từ 1992 đến 1999, Ngài làm Chủ tịch Hội Tài Trợ Tăng Ni, Tự Viện Việt Nam; tư liệu ghi Hội có 21 thành viên và tổng số tiền tài trợ trong thời gian hoạt động là 46.875 Mỹ kim. Năm Quý Dậu, 1993, sáu mươi sáu tuổi, Ngài được tấn phong Giáo phẩm Hòa thượng. Năm 1995, Ngài là Giáo thọ sư tại Giới đàn Phước Huệ.

Năm Kỷ Mão, 1999, Ngài là thành viên đồng sáng lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan, trong kỳ Đại hội tổ chức tại Chùa Pháp Bảo, Sydney, và từ đó tham gia Hội Đồng Chứng Minh của Giáo hội. Năm 2005, Ngài được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa thượng tại Giới đàn tổ chức ở Tu Viện Vạn Hạnh, Canberra, do Hòa thượng Quảng Ba làm Đàn chủ. Từ năm 2012, Ngài cùng Hòa thượng Thích Tâm Phương chủ trương duy trì Bố-tát định kỳ hằng tháng cho Tăng đoàn tại Victoria, và chính Ngài thường xuyên hiện diện. Với Ngài, sự hưng thịnh của Phật giáo trước hết phải trở về với giới pháp và sự thanh tịnh của Tăng đoàn; cơ sở có thể lớn, tổ chức có thể rộng, nhưng nếu đời sống giới luật suy giảm thì gốc rễ của Phật pháp cũng khó bền.

Một phương diện nổi bật khác trong đạo nghiệp của Ngài là trước tác, dịch thuật và khảo cứu. Các tư liệu ghi nhận những tác phẩm, bản kinh và nghi quỹ như: Chư Kinh Mật Giáo; Kinh Vu Lan Bồn; Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân; Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh; Kinh Bát Đại Nhân Giác; 32 Tướng Tốt và 80 Vẻ Đẹp của Phật; Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi; Cực Tịnh Sanh Động; cùng công trình “5.000 Năm Việt Lịch”, một khảo cứu cho thấy mối lưu tâm lâu dài của Ngài đối với lịch sử, lịch pháp và nguồn cội văn hóa Việt Nam. Bên cạnh trước tác, Ngài còn dành nhiều tâm lực cho Kinh Thủ Lăng Nghiêm, từng phát tâm ấn tống hơn 2.700 bản Thần chú Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra để trao tặng Phật tử. Qua nhiều thập niên tại Úc, Ngài đã thuyết giảng rất nhiều thời pháp; riêng tại Chùa Bảo Vương, sinh hoạt Chủ nhật gồm giảng Phật pháp, tụng kinh, kỳ an, kỳ siêu và các đại lễ đã trở thành nhịp sinh hoạt quen thuộc của Phật tử địa phương.

Nhìn lại buổi đầu của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu mới hiểu hết trọng lượng của những công việc ấy. Thế hệ các bậc tiền bối không bước vào một cơ sở đã hoàn chỉnh, cũng chưa có sẵn một cộng đồng ổn định để nương dựa. Tự viện phải từng bước dựng nên, Phật tử phải từng bước quy tụ, sinh hoạt Tăng đoàn phải từng bước định hình, tiếng nói văn hóa và đạo pháp phải được gìn giữ giữa một xã hội hoàn toàn khác. Chính bằng công sức, uy tín, sự nhẫn nại và đôi khi cả những hy sinh thầm lặng của thế hệ khai sơn, nền móng Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu mới dần thành hình. Ở nơi Đại lão Hòa thượng, những công việc ấy quy về cùng một mạch: xây dựng cơ sở nhưng không quên Tăng sự, hoằng pháp mà vẫn giữ văn hóa, phụng sự Giáo hội nhưng trước sau lấy sự tiếp nối Chánh pháp làm tâm nguyện.

Dĩ nhiên, các công trình học thuật luôn còn chỗ cho hậu thế khảo chứng, đối chiếu và hiệu đính bằng những phương pháp nghiên cứu mới. Giá trị đáng trân trọng trước hết nằm ở tâm nguyện bền bỉ của một bậc Trưởng lão đã nhiều năm làm việc với sách vở, văn hóa và Phật học. Trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, một bậc danh Tăng có học phong thường để lại cho đời không riêng chùa tháp mà còn là chữ nghĩa; chữ nghĩa lưu dấu đạo nghiệp, và đạo nghiệp lại ban chiều sâu cho chữ nghĩa. Ở Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, hai phương diện ấy nương nhau: lấy học để hành, lấy hành để giáo hóa, lấy văn để lưu truyền. Hoằng pháp bởi thế không bó hẹp nơi pháp tòa; hoằng pháp có mặt trong trang sách, lớp học, tự viện, báo chí, trong công việc cứu trợ và trong chính phong nghi của một vị Tăng sĩ biết giữ tiếng nói quê hương nơi đất khách.

Một đời tu hành của bậc Trưởng lão vốn không thể cân đong bằng vài hàng ngôi vị. Sau tất cả, điều làm nên sự kính trọng là tổng hòa những năm tháng giữ giới, học pháp, hành trì, giảng dạy, khai sơn, hộ trì Tam Bảo, xây dựng Tăng đoàn, cứu trợ đồng bào và nâng đỡ người sau. Từ Tổ đình Thiên Ấn nơi Quảng Ngãi đến những đạo tràng giữa Melbourne; từ đoàn Thanh Niên Tăng giữa Liên khu 5 đến lớp Phật học ở Sài Gòn; từ đảo Pulau Bidong đến những cơ sở đầu tiên của Phật giáo Việt Nam tại Victoria; từ trang sách đến pháp tòa, từ việc ấn kinh đến việc bảo lãnh người tị nạn — một mạch nguồn xuyên suốt vẫn là chí nguyện phụng sự Phật pháp và con người. Có những bài học chẳng nằm trong lời giảng mà lặng lẽ hiện trong đời sống của người Thầy: sự bền bỉ, tinh thần chịu trách nhiệm, lòng trung thành với Tam Bảo, ý thức gìn giữ truyền thống và sức đứng vững giữa những dâu bể của thời cuộc.

Một đời hóa duyên của Đại lão Hòa thượng đã gần trọn một thế kỷ. Khi tuổi đời đã cao, thân tứ đại thuận theo quy luật vô thường, công việc thế gian có thể nhẹ xuống, nhưng giá trị của một đời đạo hạnh lại càng lộ rõ. Bậc Trưởng lão đến cuối đời không được hậu thế nhớ sâu nhất bởi những gì thế gian gọi định danh, mà bởi những gì đã gieo được trong tâm thức người sau. Với Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn, di sản ấy trước hết là tinh thần học Phật, trọng giới, trọng Tăng đoàn, trọng văn hóa và không ngừng phụng sự. Những cơ sở, tổ chức, đạo tràng, lớp học, trang sách và mối đạo tình của Phật giáo Việt Nam tại Úc Châu hôm nay đều có phần dấu chân của những bậc đi trước như Ngài. Thành tựu ấy không phải điều đương nhiên có sẵn; nó được gây dựng bằng tháng năm, lao lực, nhẫn nại và một niềm tin bền bỉ vào sự tiếp nối của Chánh pháp.

Bởi thế, hôm nay hàng hậu tấn tưởng niệm bậc Trưởng lão không dừng nơi nghi lễ, mà sự báo đáp thâm ân thiết thực nhất vẫn là biết soi mình trong công hạnh tiền nhân: học mà không kiêu, hành mà không mỏi, làm Phật sự mà không quên giới pháp, giữ truyền thống mà không đánh mất tinh thần hòa hợp. Từ Quảng Ngãi nối đến Melbourne, từ Tổ đình Thiên Ấn nối sang đời sống Phật giáo Việt Nam nơi hải ngoại, từ giáo dục đến hoằng pháp, từ văn chương, báo chí đến công tác Giáo hội và từ thiện xã hội, đời Ngài là một chứng tích sống động của nhiều thời kỳ Phật giáo Việt Nam. Điều lưu lại dài lâu hơn mọi danh xưng chính là bóng dáng một bậc Chúng Trung Tôn suốt đời giữ mối liên hệ với Tam Bảo, với Tăng đoàn, với văn hóa dân tộc và với thế hệ kế thừa.

Nay khi hóa duyên đã theo thời tiết nhân duyên mà đến hồi viên mãn, trang hành trạng khép lại, song một đời đạo nghiệp chưa vì thế mà đoạn. Thân tứ đại thuận vô thường, còn giới hương đã lưu trong Tăng chúng; bước hành cước dừng, còn đạo phong đã nhập vào ký ức thiền môn; một ngọn đèn khuất sau hiên chiều, nhưng ánh lửa đã trao sang vô số ngọn khác. Hàng hậu học thành kính đảnh lễ, tưởng niệm và nguyện tiếp nhận phần di sản ấy bằng sự tu học nghiêm cẩn, bằng tinh thần hòa hợp và bằng trách nhiệm đối với mai hậu, để pháp đăng đã được gìn giữ từ Thiên Ấn năm xưa vẫn tiếp tục sáng nơi một phương trời xa.

Sáng ngày 09 tháng 09 năm 2026, giữa trời Melbourne còn lặng, duyên hóa độ của một bậc Trưởng lão đã đến hồi viên mãn, nhằm ngày 28 tháng 07 năm Bính Ngọ, tại Chùa Bảo Vương, Melbourne, Victoria, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Tôn an nhiên thu thần thị tịch, trụ thế 99 năm, Hạ lạp 78 hạ. Một đời gần thế kỷ khép lại; hơn tám mươi năm từ buổi sơ tâm nơi Tổ đình Thiên Ấn đã trở về với lẽ tịch nhiên. Thân tứ đại thuận vô thường, nhưng giới hương chưa nhạt; bước hành cước đã dừng, song đạo phong còn lưu giữa Tòng lâm; tiếng pháp có lúc lặng, mà ngọn đèn đã truyền sang người hậu học. Từ Quảng Ngãi đến Melbourne, từ Thiên Ấn đến Bảo Vương, một đời đi qua bao dâu bể mà tâm nguyện phụng trì Tam Bảo vẫn trước sau như nhất. Nay tháp ảnh khuất vào mây trắng, người sau cúi đầu trước một khoảng vắng rất sâu rộng của thiền môn, đồng nguyện lấy giới đức để tiếp giới đức, lấy học phong để tiếp học phong, lấy hòa hợp để giữ Tăng luân, lấy phụng sự để báo đáp tiền nhân. Đó mới là nén tâm hương ý nghĩa nhất dâng lên một đời đạo nghiệp.

Nam Mô Lâm Tế Chánh Tông Chúc Thánh, Tứ Thập Nhất Thế, Khai Sơn Bảo Vương Tự, Huyền Tôn Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

Exit mobile version