Site icon Sen Trắng

HT Thích Nguyên Siêu: Phật Đản của Thiếu Nhi | The Buddha’s Birth Celebration for Children

Nhân chuyến đi Phật sự và tham dự Đại lễ Phật Đản tại tiểu bang Georgia, tôi có dịp chứng kiến sự sinh hoạt và học Phật pháp của các em thiếu nhi và Gia Đình Phật Tử thật dễ thương. Nhờ sự hướng dẫn của quý Thầy, quý Cô, cũng như các anh chị huynh trưởng, các em biết niệm Phật, học lịch sử Đức Phật, vẽ hình Phật sơ sinh. Có quý Thầy chấm điểm để các em đạt giải nhất, nhì, ba…

Đây là cách giáo dục giúp các em biểu tỏ tấm lòng tưởng nhớ Đức Phật. Những bức tranh các em cặm cụi vẽ, tô màu bằng những tâm hồn trong trắng, vô tư, thuần khiết. Chính những tâm hồn thuần khiết này dễ bề tiếp thu Phật pháp mà không cần lý luận, chất vấn. Do vậy, quý Thầy, quý Cô và các anh chị huynh trưởng nên lưu tâm, xem đó là bổn phận và trách nhiệm của mình trên con đường giáo dục thiếu nhi. Những hạt mầm đã được gieo xuống chắc chắn có ngày nảy nở hoa lá. Con người được giáo dục từ nhỏ, lớn lên sẽ trở thành người đạo đức, hiền lương. Vì vậy, quý Thầy, quý Cô, quý huynh trưởng cần thương yêu, giảng dạy các em thiếu nhi ngay bây giờ, trên nền tảng niềm tin yêu Phật pháp.

Thấy các em học theo từng đội—năm người, bảy người—đây là cách học tập theo tinh thần đoàn kết, giúp các em làm quen và trở thành những người bạn thân thiết. Nhìn các em học một cách hồn nhiên, lại nghĩ về bao thế hệ cha ông nhiều thập kỷ trước, đâu có cơ hội học Phật pháp, vẽ hình Đức Phật Đản Sanh như hôm nay. Thật đẹp! Một con đường giáo dục đẹp:
“Em tưởng nhớ Phật,
Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em,
Em thương người và vật.”

Trong chương trình Đại lễ Phật Đản, các em thiếu nhi, Gia Đình Phật Tử dâng hương, dâng hoa, cung nghinh kiệu Phật sơ sinh. Chư Tôn đức Tăng Ni, cùng cộng đồng Phật tử tháp tùng, tạo thành một hàng người dài, đi trong sự thanh tịnh, trang nghiêm—thật vô vàn phước lạc. Ngay trong đời này, chúng ta có được phước duyên từ nhiều kiếp trước để hôm nay cùng hòa mình vào niềm vui kính mừng ngày Phật Đản Sanh.

Cũng nhân đây, để các em thiếu nhi hiểu được ý nghĩa “Đản Sanh”, suốt dòng lịch sử của Đức Phật được phương tiện chia thành bốn giai đoạn:

Thứ nhất: Đản Sanh

Đản Sanh có nghĩa là Bồ Tát Hộ Minh trên cung trời Đâu Suất vào thai Hoàng hậu Maya cho đến ngày sinh nở. Khi Hoàng hậu đang dạo xem vườn cảnh Lâm Tỳ Ni, đi đến cây vô ưu, đưa cánh tay phải hái đóa hoa trăm ngàn năm có một, ngay lúc đó Hoàng hậu hạ sanh Thái tử dưới gốc cây này. Do vậy, cho đến bây giờ, tất cả người Phật tử thường nói: “Thái tử Tất Đạt Đa hạ sanh dưới gốc cây vô ưu, trong vườn Lâm Tỳ Ni.”

Như vậy, Đản Sanh là được sinh ra, hiển bày trước mắt để mọi người có thể thấy hình hài của Thái tử lúc mới sinh, và nghe Thái tử nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn.” Nghĩa là trên trời, dưới trời chỉ có một mình Như Lai là tôn quý. Trên bảy đóa sen hồng tươi thắm, sau khi hoàn tất ý nghĩa Đản Sanh của Đức Phật thị hiện, đoàn tỳ nữ bồng Thái tử trao cho Hoàng hậu ôm vào lòng nhất mực thương yêu. Đây là đời sống sinh ra từ Mẹ.

Thứ hai: Phước Sanh

Trở về lại hoàng cung, Tịnh Phạn Vương xây cho Thái tử ba cung điện: một cung điện cho mùa nóng, một cung điện cho mùa lạnh, và một cung điện cho mùa không nóng không lạnh. Đây là một cách diễn đạt; nói chung, Thái tử sống trong cung vàng điện ngọc, được chăm sóc đầy đủ, tận hưởng sự giàu sang, quyền quý vương giả, không thiếu một thứ gì, đời sống nhiều phước đức.
Có được phước đức hôm nay không phải tự nhiên mà có, mà là do trải qua nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ tu tập, vun bồi, hy sinh đời mình để phụng sự cho kẻ khác, biết bố thí, cúng dường, tu phước và làm vô lượng hạnh lành. Cho nên hôm nay Thái tử Tất Đạt Đa mới được như vậy. Vì thế nói: “Phước huệ lưỡng toàn phương tác Phật.” Phước và Huệ cả hai đều đầy đủ thì mới thành Phật. Do đó, giai đoạn thứ hai này là giai đoạn sinh ra từ phước báo, nên gọi là Phước Sanh.

Thứ ba: Hành Sanh

Vì hạnh nguyện độ sanh của Bồ Tát Hộ Minh trên cung trời Đâu Suất, cho nên khi Thái tử lớn lên, sống trong cung vàng điện ngọc không phải là mục đích của Bồ Tát, mà mục đích là cứu độ con người, chúng sinh tu tập để chấm dứt khổ đau. Do vậy, Thái tử quyết chí xuất gia để tìm con đường giác ngộ giải thoát.

Từ giã hoàng cung, Thái tử vào núi rừng Himalaya tu khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như. Trong sáu năm tu khổ hạnh, rày đây mai đó, khi thì ngồi thiền dưới gốc cây, khi thì ăn uống dưới gốc cây, khi thì ngủ nghỉ cũng dưới gốc cây, chịu đựng tuyết sương, nóng lạnh. Cho đến một hôm, Thái tử ngã xỉu tại chỗ ngồi, sức khỏe cạn kiệt, trí tuệ mỏi mòn. Khi tỉnh dậy, Thái tử nhận ra rằng pháp môn tu ép xác khổ hạnh không phải là phương pháp để giác ngộ giải thoát. Thái tử quyết định từ bỏ pháp môn này và trở về đời sống không khổ hạnh ép xác, không thọ hưởng dục lạc; đó là đời sống Trung đạo.

Thái tử qua bên kia bờ sông Ni Liên Thiền, góp nhặt cỏ cây, nhánh lá làm thành một thảo tòa dưới cội cây đại thọ và nhận bát cháo sữa cúng dường từ người nữ chăn cừu. Uống xong bát cháo sữa ấy, Thái tử ngồi kiết già trên thảo tòa, phát nguyện: “Kể từ hôm nay, dưới cội cây này, ta phải chứng đắc quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác; nếu không, dù thịt nát xương tan, ta không rời khỏi cội cây này.”
Sau lời phát nguyện, tu hành suốt 49 ngày, đến đêm thứ 49, khi sao mai vừa mọc trong buổi sáng hừng đông, Thái tử thành Phật. Đây là giai đoạn thứ ba, đời sống sinh ra từ sự tu hành; nếu không tu hành thì không thành Phật, nên được gọi là Hành Sanh.

Thứ tư: Tịnh Sanh

Suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, đi khắp mọi miền đất nước Ấn Độ, khi thì trú ngụ trong thành Vương Xá, lúc dừng chân nơi Ma Kiệt Đà… đến lưu vực sông Hằng, Đức Phật không từ nan bất cứ nơi nào. Lên trời để độ chư thiên, xuống biển để độ vua rồng, sáu đường đều rủ lòng từ bi bình đẳng. Từ vua quan đến thứ dân lam lũ, từ hạng hào tộc quý phái đến lớp người cùng đinh, sang giàu hay nghèo khó, Đức Phật dạy về bình đẳng, xóa bỏ nô lệ, xây dựng một xã hội con người bình đẳng. Vì “Nhất thiết chúng sinh, giai hữu Phật tánh”; vì ai cũng có dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, nên không có giai cấp và nô lệ trong Thánh pháp của Như Lai.

Cuối cùng, đến ngày công viên quả mãn, Đức Phật đi về khu rừng Kusinara, nhập diệt giữa hai cây Sa-la, vào vô dư y Niết-bàn, pháp thân tịch tịnh, gọi đây là Tịnh Sanh. Sự sống được sinh ra từ sự tịch diệt, pháp thân thường hằng.

Một khi quý Thầy, quý Cô, quý huynh trưởng giảng dạy cho các em thiếu nhi hiểu được dòng lịch sử Phật như vậy, thì quả thật đó là tinh thần giáo dục toàn diện, tinh thần giáo dục đáng kính quý.

Chương trình kính mừng ngày Đức Phật Đản sanh của Cộng đồng Phật giáo Georgia lần thứ 2650 (Phật lịch 2570, Dương lịch 2026) đã thành tựu viên mãn.

Đây chính là biểu tỏ tinh thần hòa hợp thanh tịnh của tứ chúng đệ tử Phật, trong ý nghĩa giáo dục thiếu nhi, xây dựng niềm tin qua những bức tranh vẽ Phật sơ sinh của các em thiếu nhi thật rất ngoạn mục.

Tán dương công đức quý Thầy, quý Cô.

Georgia, ngày 26/04/2026

Gia Đình Phật Tử Thiền Viện Trúc Lâm Bảo Chí tham dự Đại Lễ Phật Đản Chung, Georgia, 2026. – Photographer: Thanh Phong

The Buddha’s Birth Celebration for Children

Venerable Thích Nguyên Siêu
English translation by Phổ Ái

During a Dharma journey and while attending the Vesak celebration in the state of Georgia, I had the opportunity to witness the wholesome activities and Buddhist learning of children and the Vietnamese Buddhist Youth Association. Under the guidance of venerable monks, nuns, and GĐPT leaders, the children learn to recite the Buddha’s name, study the life of the Buddha, and draw images of the newborn Buddha. Some venerables even evaluate their work and award first, second, and third prizes.

This is a form of education that allows children to express their reverence for the Buddha. The drawings they diligently create and color arise from pure, innocent, and uncontrived minds. It is precisely these pure minds that can readily receive the Dharma without the need for argumentation or questioning. Therefore, monks, nuns, and GĐPT leaders should pay careful attention, recognizing this as their duty and responsibility on the path of educating the younger generation. Seeds that are sown will certainly one day blossom. A person who is educated from a young age will grow into a virtuous and kind individual. For this reason, monks, nuns, and leaders must love and guide children now, grounded in faith and devotion to the Buddhadharma.

Observing the children learning in small groups—five or seven per team—this method fosters a spirit of unity, helping them form bonds and become close companions. Watching them learn with such natural innocence, one cannot help but reflect on past generations who, decades ago, had no opportunity to study the Dharma or draw images of the Buddha’s Birth as children do today. How beautiful! A beautiful path of education:

During the Vesak program, the children and members of the Vietnamese Buddhist Youth Association offer incense and flowers, and participate in the procession of the image of the newborn Buddha. The venerable Sangha, together with the lay Buddhist community, accompany the procession, forming a long, serene, and dignified line—truly a manifestation of immeasurable merit and joy. In this very life, we possess the karmic blessings cultivated over many past lives, allowing us today to partake in the joy of celebrating the Buddha’s Birth.

On this occasion, to help children understand the meaning of “Birth” (Đản Sanh), the life of the Buddha may be skillfully presented in four stages:

First: Birth (Đản Sanh)

“Birth” refers to the Bodhisattva descending from the Tuṣita Heaven into the womb of Queen Māyā, culminating in His birth. While the Queen was strolling in the Lumbinī Garden, she reached for a branch of the Aśoka tree to pick a rare blossom, and at that very moment gave birth to the Prince beneath the tree. Thus, to this day, Buddhists recount: “Prince Siddhārtha was born beneath the Aśoka tree in Lumbinī Garden.”

Birth means manifestation—appearing before the world so that all may behold the form of the newborn Prince and hear His proclamation: “Above the heavens and below the heavens, I alone am the Honored One.” Standing upon seven lotus flowers, after manifesting the significance of His birth, the Prince was then received by attendants and placed lovingly into the arms of His mother. This represents life arising from the mother.

Second: Blessed Birth (Phước Sanh)

Returning to the royal palace, King Śuddhodana built three palaces for the Prince: one for the hot season, one for the cold season, and one for the temperate season. This signifies a life of abundance and privilege, where the Prince was fully cared for and enjoyed royal prosperity without lack.

Such blessings do not arise by chance; they are the result of countless past lives of cultivation—practicing generosity, making offerings, cultivating merit, and performing virtuous deeds. Thus it is said: “Only when merit and wisdom are complete does one become a Buddha.” Therefore, this second stage is called Blessed Birth—a life born from accumulated merit.

Third: Birth through Practice (Hành Sanh)

Motivated by the Bodhisattva’s vow to liberate beings, the Prince recognized that life in luxury was not His ultimate purpose. His aim was to liberate beings from suffering. Therefore, He resolved to renounce the household life and seek the path to enlightenment.

Leaving the palace, He practiced asceticism in the Himalayas with the five ascetics. For six years, He endured extreme hardship—meditating, eating, and resting beneath trees, exposed to the elements. Eventually, His body weakened to the point of collapse. Upon regaining consciousness, He realized that extreme asceticism was not the path to enlightenment. He then embraced the Middle Way, avoiding both self-mortification and indulgence.

Crossing the Nerañjarā River, He gathered grass to form a seat beneath a great tree and accepted a bowl of milk-rice offered by a shepherdess. After partaking of it, He sat in meditation and made the vow: “From this day onward, beneath this tree, I will attain supreme enlightenment. If not, even if my flesh withers and my bones decay, I will not rise from this seat.” After 49 days of meditation, upon the appearance of the morning star, He attained Buddhahood. This is called Birth through Practice—for without practice, enlightenment cannot be realized.

Fourth: Pure Birth (Tịnh Sanh)

For 45 years, the Buddha traveled throughout India teaching the Dharma—residing at times in Rājagṛha, at times in Magadha, and along the Ganges. He spared no effort in benefiting all beings: ascending to the heavens to teach devas, descending to the oceans to teach nāgas, extending compassion equally to all realms. From kings and nobles to the poor and destitute, He taught equality and abolished social divisions. For “all beings possess Buddha-nature”; all share the same blood and tears, and thus there is no caste or slavery in the Dharma of the Tathāgata.

Finally, at the completion of His mission, the Buddha entered Parinirvāṇa in the grove of Kuśinagara, between two Śāla trees, attaining Nirvāṇa without remainder. This is called Pure Birth—a life arising from ultimate stillness, the eternal Dharma-body.

When monks, nuns, and GĐPT leaders are able to teach children the life of the Buddha in this way, it truly embodies a complete and noble form of education.

The Vesak celebration of the Buddhist community in Georgia, marking the 2650th anniversary (Buddhist Era 2570, Year 2026), was successfully and harmoniously completed.

This event is a true expression of the unity and purity of the fourfold assembly of the Buddha’s disciples, carrying profound educational meaning for children and nurturing faith through their beautiful drawings of the newborn Buddha.

With deep appreciation for the merits of the venerable monks and nuns.

Georgia, April 26, 2026

Exit mobile version