Site icon Sen Trắng

Trí-Tuệ: Khi Tăng-già còn hòa hợp, Chánh pháp còn nơi nương tựa

Nhân Lễ Bố-tát kỳ III, Phật lịch 2570, tại Chùa Từ Hiếu — nghĩ về bản thể Tăng-già và con đường hoằng pháp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất

Giữa những biến động không ngừng của lịch sử, một Giáo hội Phật giáo có thể trải qua những thời kỳ hưng suy về cơ cấu, nhân sự và hoàn cảnh hành đạo. Nhưng có một điều, nếu còn được gìn giữ thì sinh mệnh của Phật pháp mãi không đoạn tuyệt, đó chính là bản thể thanh tịnh và hòa hợp của Tăng-già. Bởi trước khi Phật giáo trở thành một thiết chế xã hội, một truyền thống văn hóa hay một tổ chức có danh xưng và quy chế, Phật giáo đã hiện hữu bằng sự có mặt của Phật, Pháp và Tăng. Và trong Tam bảo ấy, Tăng bảo chính là cộng đồng sống động tiếp nhận Giới pháp, hành trì Chánh pháp, chứng nghiệm Chánh pháp và trao truyền Chánh pháp từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Lễ Bố-tát kỳ III được cử hành ngày 12 tháng 8 năm 2026, nhằm ngày 30 tháng 6 năm Bính Ngọ, tại Chùa Từ Hiếu, Sài Gòn, với sự câu hội của chư Tôn đức Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN, Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Giáo Giới Gia Đình Phật Tử Việt Nam, chư Tôn đức Tăng Ni cùng hàng Phật tử, vì thế có thể được nhìn xa hơn khuôn khổ của một nghi lễ định kỳ. Với mạng mạch của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đó còn là một biểu hiện cụ thể của sự trở về nguồn, nghĩa là trở về với Giới, trở về với Tăng-già và từ Tăng-già mà xác lập nơi nương tựa cho các chúng đệ tử Phật.

Bố-tát, Uposatha, vốn thuộc về đời sống căn bản của Tăng đoàn từ thời Đức Phật. Đó không phải một nghi thức nhằm biểu thị quyền lực giáo hội, càng không phải một hình thức hội họp để xác nhận địa vị của cá nhân. Tăng chúng câu hội để tụng đọc Giới bổn, tự quán xét đời sống phạm hạnh, phát lộ những điều cần phát lộ, cùng nhau làm thanh tịnh cộng đồng. Bởi thế, chiều sâu của Bố-tát nằm ngay trong một ý nghĩa rất đẹp của đạo Phật: sức mạnh của Tăng-già không phát sinh từ việc chứng minh mình mạnh mà từ khả năng mỗi thành viên tự đặt mình dưới Pháp và Luật. Không ai đứng trên Giới luật; chính sự cùng nhau kính thuận Giới luật làm nên phẩm tính của Tăng đoàn.

Đọc sự kiện tại Chùa Từ Hiếu trong chiều sâu như vậy, để hiểu câu “Giới luật còn thì Phật pháp còn”, không nên chỉ được hiểu như một khẩu hiệu bảo thủ hình thức. Giới không phải bức tường đóng kín Phật giáo trước thời đại. Giới là đường biên tỉnh thức giúp người con Phật bước vào thời đại mà không bị thời đại cuốn mất mình. Một cộng đồng có thể sở hữu tự viện nguy nga, phương tiện truyền thông hiện đại, hệ thống tổ chức rộng lớn và vô số hoạt động xã hội. Nhưng nếu đời sống ấy dần tách khỏi Giới–Định–Tuệ, thì những gì còn lại có thể mang hình thức Phật giáo mà sức sống giải thoát của Phật pháp đã trở nên mong manh. Ngược lại, trong những hoàn cảnh thiếu thốn nhất, nếu Tăng chúng vẫn cùng nhau tác pháp, Bố-tát, an cư, học giới, hành trì và hòa hợp, thì nơi đó mạng mạch của Như Lai vẫn đang âm thầm tiếp nối.

Điều này càng đáng suy nghiệm khi đặt trong lịch sử và hiện tình của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Từ những lời cuối đời của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ, ước nguyện về một Tăng-già thanh tịnh, hòa hợp đã được đặt vào vị trí căn bản, đó là duy trì bản thể ấy để làm nơi quy ngưỡng cho bốn chúng đệ tử hành đạo và tiến tu đạo nghiệp. Sau đó, trong tiến trình kiện toàn sinh hoạt Viện Tăng Thống, Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương cũng được xác định là sự thể hiện bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng-già, làm sở y cho bốn chúng đệ tử hành đạo và hóa đạo; đồng thời kế thừa sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh của lịch đại Tổ sư.

Chính ở đây, khái niệm Bản thệ Tăng-già mang một ý nghĩa sâu hơn tên gọi của một hội đồng. “Bản thệ” trước hết gợi đến lời nguyện căn nguyên của người xuất gia: thọ trì giới pháp, tiếp nối huệ mạng Phật, duy trì Chánh pháp và lấy lợi lạc chúng sinh làm sự nghiệp. Bởi vậy, nói lấy Bản thệ Tăng-già làm nơi nương tựa cần được hiểu không phải là sự quy thuộc vào một tập hợp cá nhân, càng không phải sự tuyệt đối hóa một cơ cấu hành chánh. Nơi nương tựa tối hậu vẫn là Tam bảo; và Tăng-già chỉ thực sự xứng đáng là Tăng bảo khi hiện thân cho đời sống thanh tịnh, hòa hợp, y Pháp, y Luật.

Sự phân biệt này vô cùng hệ trọng. Bởi Phật giáo không xây dựng đức tin trên sự sùng bái nhân cách. Đức Phật nhập Niết-bàn nhưng Pháp và Luật được để lại làm Thầy. Người xuất gia nương Pháp và Luật để sống đời phạm hạnh; người tại gia nương Tăng bảo để học Pháp, hành Pháp và trưởng dưỡng Bồ-đề tâm. Như thế, quan hệ giữa Tăng-già và các chúng đệ tử không phải quan hệ của quyền lực với sự phục tùng, mà là quan hệ của sở y và hộ trì: Tăng-già thanh tịnh làm sở y cho cư sĩ; cư sĩ hộ trì Tăng-già để Tăng-già có điều kiện duy trì đời sống phạm hạnh và hoằng truyền Chánh pháp. Hai phía gặp nhau trong một mục đích vượt khỏi lợi ích của chính mình đó là làm cho ngọn đèn Chánh pháp tiếp tục được trao truyền.

Hình ảnh sau thời Bố-tát, chư Tôn đức cúng Ngọ và thọ nhận Trai Tăng do Phật tử Chùa Từ Hiếu phát tâm cúng dường, vì vậy mang một vẻ đẹp cổ xưa mà chưa bao giờ lỗi thời. Một bên dâng phẩm vật để hộ trì đời sống tu hành. Một bên tiếp nhận bằng đời sống giới hạnh và đem Pháp bảo hồi hướng lại cho thế gian. Cúng dường, trong ý nghĩa này không phải sự trao đổi phước báu. Đó là sự tương thuộc của bốn chúng trong một cộng đồng Phật giáo lành mạnh. Tăng Ni giữ gìn Pháp tạng và giới pháp; cư sĩ hộ trì điều kiện vật chất; tất cả cùng hướng về sự đoạn trừ vô minh và lợi lạc hữu tình.

Nhìn rộng hơn, đây cũng chính là nền móng để hiểu hoằng pháp của GHPGVNTN. Hoằng pháp không khởi đầu từ truyền thông, diễn đàn hay số lượng người tham dự. Hoằng pháp bắt đầu từ việc có một đời sống đáng để Pháp được nhìn thấy qua đó. Một thời Bố-tát đúng Pháp đã là hoằng pháp. Một mùa An cư nghiêm tịnh đã là hoằng pháp. Một Tăng đoàn có thể cùng ngồi lại trong lục hòa, vượt qua những dị biệt cá nhân để cùng đặt mình dưới Giới luật, tự thân đã là một bài pháp không lời.

Thực tế những năm gần đây cho thấy mạch sinh hoạt này có tính liên tục. Năm 2025, Văn phòng Viện Tăng Thống đã tổ chức An cư kiết hạ và ba kỳ Bố-tát chung giữa Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương, Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ và Hội Đồng Giáo Giới GĐPTVN; văn bản Phật sự nhấn mạnh việc y theo Luật kiết giới an cư và tạo thắng duyên cho tinh thần tứ chúng đồng tu. Những sinh hoạt Phật Đản, tưởng niệm chư vị Tăng Thống, Tổ sư và các bậc giáo phẩm tiền bối cũng tiếp tục được duy trì trong đời sống Giáo hội. Nhìn từ bên ngoài, đó là những Phật sự khác nhau; nhìn từ bên trong, đều cùng quy về một trục: bảo tồn ký ức truyền thừa, củng cố Tăng-già và từ nội lực tu chứng mà mở ra sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.

Điều ấy đặc biệt quan trọng đối với Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Lịch sử GĐPT chưa bao giờ là lịch sử của một đoàn thể thanh thiếu niên đứng biệt lập bên ngoài Tăng-già. Màu Lam trưởng thành dưới mái chùa, trong tiếng chuông, lời kinh, dưới sự giáo dưỡng của chư Tôn đức và trong lý tưởng đưa giáo pháp vào đời sống tuổi trẻ. Mối liên hệ giữa Hội Đồng Tăng Già Bản Thệ, Hội Đồng Giáo Giới và GĐPTVN qua nhiều Phật sự cũng cho thấy sự tiếp nối của quan hệ giáo dưỡng ấy. Vì vậy, đối với người Huynh trưởng, nương tựa Tăng-già không phải là tìm một thế lực để bảo chứng cho tổ chức mình. Đó là tự đặt đời sống giáo dục của mình trở lại dưới ánh sáng của Tam bảo, để mọi phương pháp, cơ cấu và hoạt động cuối cùng đều phải được soi xét bằng câu hỏi rằng điều này có đưa người trẻ đến gần hơn với Bi, Trí, Dũng, với đời sống tỉnh thức và con đường giải thoát hay không?

Từ đây cũng có thể nhận ra một ý nghĩa khác của chữ Thống Nhất trong danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sự thống nhất ấy, theo tinh thần Hiến chương, không nhằm xóa bỏ những dị biệt tông phái hay áp đặt một hình thức đồng nhất, mà đặt trên nguyên tắc điều hợp, tôn trọng giáo lý, giới luật và nếp sống của các truyền thống trong sự kết hợp có chỉ đạo. Như vậy, thống nhất sâu xa nhất không phải mọi người cùng nói một tiếng nói, mà là những người có thể khác nhau vẫn cùng quay về một Pháp, cùng kính trọng một Luật và cùng nhận ra mình là thành viên của một cộng đồng giác ngộ.

Trong thời đại mà Phật giáo cũng phải đối diện với sức ép của truyền thông, cá nhân hóa, phân cực và những tranh chấp về thẩm quyền, bài học của Bố-tát càng trở nên ý nghĩa. Phật giáo không thể chữa trị sự phân hóa bằng một sự phân hóa khác; cũng không thể bảo vệ Chánh pháp bằng cách đánh mất phẩm chất Chánh pháp trong phương tiện bảo vệ mình. Câu trả lời căn bản vẫn là trở về, nghĩa là người xuất gia trở về với Giới; Tăng đoàn trở về với lục hòa; cư sĩ trở về với Tam quy; người làm Phật sự trở về với tâm nguyện phụng sự; người Huynh trưởng trở về với lý tưởng giáo dục của người Phật tử Áo Lam.

Bởi thế, giá trị của Lễ Bố-tát kỳ III tại Chùa Từ Hiếu không nằm ở quy mô của một ngày lễ. Một buổi sáng rồi sẽ qua; tiếng tụng Giới rồi sẽ lắng xuống; đại chúng rồi mỗi người trở về trú xứ của mình. Nhưng nếu sau dịp câu hội ấy, Giới được giữ sâu hơn, Tăng được hòa hợp hơn, niềm tin của cư sĩ đối với Tam bảo được vững hơn, người Huynh trưởng ý thức rõ hơn nơi nương tựa tâm linh của mình và mỗi người biết giảm xuống một phần ngã chấp để Chánh pháp có thêm một phần đất sống, thì Bố-tát đã thực sự bước ra khỏi giới trường.

Hoằng pháp rốt cuộc cũng bắt đầu từ đó.

Không nhất thiết từ một diễn đàn lớn mà từ một vị Tăng giữ giới giữa nơi không ai nhìn thấy. Không nhất thiết từ một bài thuyết pháp hùng biện mà từ một Tăng đoàn còn có thể ngồi bên nhau trong thanh tịnh và hòa hợp. Không nhất thiết từ sự phô diễn sức mạnh của một Giáo hội mà từ khả năng Giáo hội ấy làm cho con người nhìn thấy rằng sau tất cả thăng trầm của lịch sử, vẫn còn những người nguyện đem cả đời mình đặt dưới Pháp và Luật.

Khi Bản thệ Tăng-già còn giữ được ý nghĩa như vậy, thì đó chính là nơi các chúng đệ tử Phật có thể hướng về — không phải để nương vào quyền lực của con người mà để qua hình bóng Tăng-già tìm lại nơi nương tựa  Phật, Pháp và Tăng. Và nếu người xuất gia cùng người tại gia, Giáo hội cùng Gia Đình Phật Tử, thế hệ đi trước cùng thế hệ tiếp nối đều hiểu nơi nương tựa ấy bằng tinh thần như thế, thì sự trường tồn của GHPGVNTN cũng không còn được đo trước hết bằng cơ cấu hay danh xưng.

Bấy giờ được đo bằng huệ mạng còn được tiếp nối hay không.

Giới còn, con đường trở về còn. Tăng-già hòa hợp, Chánh pháp còn nơi nương tựa. Chánh pháp còn nơi nương tựa, thì giữa mọi vô thường của thế cuộc, ngọn đèn Như Lai vẫn sáng mãi.

Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tam Bảo.

Tòng Lâm Xứ, ngày vọng nguyệt mùa Vu Lan, PL. 2570

TRÍ-TUỆ

Exit mobile version