Site icon Sen Trắng

Ronaldo Tumbokon | Quảng Pháp dịch và ghi chú: Mặt tốt và xấu của phương tiện truyền thông xã hội đối với thanh thiếu niên và trẻ nhỏ | Good and Bad Effects of Social Media on Teens and Kids | 1

Cute schoolgirl child playing and surfing online late at night. Child addicted to internet games and social media can?t sleep hooked on laptop. Digital technology in childhood and internet addiction. (Cute schoolgirl child playing and surfing online

Ảnh minh họa | Internet

Ảnh hưởng tốt và xấu của phương tiện truyền thông xã hội đối với thanh thiếu niên và trẻ nhỏInstagram, Snapchat, TikTok, Facebook, Twitter hay các trang web truyền thông xã hội khác là những “món quà trời cho” đối với trẻ nhỏ và thanh thiếu niên muốn liên lạc và biết điều gì đang xảy ra với bạn bè hoặc người thân của mình. Chỉ cần mở một ứng dụng hoặc một trang web, các em có thể giao tiếp và tìm hiểu về tất cả những người mà mình quan tâm (ít nhất là những người đã đăng nhập vào cùng một mạng).

Song, cũng giống như nhiều thứ mà mọi người đam mê, có những mặt tiêu cực đối với mạng xã hội. Đề cập đến trẻ nhỏ và thanh thiếu niên, nhiều nghiên cứu cho thấy mạng xã hội có tác động xấu đến tâm trí của trẻ em và di hại có thể lâu dài hoặc không thể khắc phục được. Mặt khác, những người có khuynh hướng ủng hộ, thì nhanh chóng chỉ ra rằng những đứa trẻ sử dụng mạng xã hội đang tăng cường tương tác xã hội khi buộc não bộ của chúng phải thích ứng với công nghệ mới.

I. Mặt xấu của phương tiện truyền thông xã hội đối với thanh thiếu niên và trẻ em.

Một tác động xấu phổ biến của mạng xã hội là nghiện – liên tục kiểm tra các cập nhật của Snapchat, Instagram, Facebook, Twitter hoặc các phương tiện truyền thông xã hội khác. Các chuyên gia tin rằng việc biết những gì đang diễn ra với bạn bè và những gì họ đang nghĩ hoặc cảm thấy có thể gây nghiện. Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Não đồ của UCLA[1] đã phát hiện ra rằng việc được đánh giá cao trên mạng xã hội thông qua “lượt thích” đã được thấy trong các lần quét não để kích hoạt các trung tâm khen thưởng của não. Mạch phần thưởng này đặc biệt nhạy cảm trong thời kỳ thanh thiếu niên, và điều này có thể giải thích một phần lý do tại sao thanh thiếu niên lại quan tâm nhiều hơn đến mạng xã hội.

Đối với trẻ em và thanh thiếu niên, việc biết có bao nhiêu người thích những gì họ đã đăng, bao nhiêu người đã theo dõi (hoặc bỏ theo dõi) họ và biết những gì mọi người nói về họ cũng dẫn đến việc thường xuyên truy cập công nghệ. Chứng nghiện mạng xã hội này có thể làm gián đoạn các hoạt động đáng giá khác như tập trung vào bài vở ở trường, đọc sách hoặc tham gia vào các môn thể thao. Những người sử dụng mạng xã hội nặng nhất thừa nhận đã kiểm tra nguồn cấp dữ liệu mạng xã hội của họ hơn 100 lần một ngày, đôi khi ngay cả trong trường học.

Các tác động xấu của mạng xã hội đối với trẻ em và thanh thiếu niên, theo các nhà tâm lý học hoặc các nghiên cứu khoa học đề xuất, như sau:
Văn phòng Thống kê Quốc gia Vương quốc Anh, năm 2015, phát hiện ra rằng trẻ em dành hơn 3 giờ học mỗi ngày trên các trang mạng xã hội có nguy cơ tâm thần suy nhược cao gấp hai lần. Việc đắm chìm trong thế giới ảo có thể khiến những đứa trẻ này bị chậm phát triển về mặt cảm xúc và xã hội. Theo báo cáo, mạng xã hội có khả năng là “nguồn so sánh xã hội[2], bắt nạt và cô lập trên mạng”, có thể dẫn đến các vấn đề tâm thần.

Một báo cáo do Viện Kinh tế Lao động IZA[3] công bố, thậm chí còn cho rằng chỉ một giờ mỗi ngày trên mạng xã hội cũng có thể khiến một thanh thiếu niên khốn khổ. Nghiên cứu cũng đưa ra giả thuyết rằng điều này có thể được gây ra bởi các vấn đề về bắt nạt trên mạng[4], sự gia tăng so sánh xã hội và giảm các hoạt động trực tiếp, ngoài đời thực.

Một nghiên cứu khác[5], năm 2015, của Hiệp hội Tâm lý Anh[6] cho thấy thanh thiếu niên bắt buộc phải phản ứng với mạng xã hội (thích bài đăng, trả lời tin nhắn và tin nhắn trực tiếp) suốt cả ngày có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của họ.

Một nghiên cứu của Đại học Michigan[7] dường như chỉ ra rằng ở những người trẻ tuổi, việc sử dụng Facebook dẫn đến suy giảm sức khỏe chủ quan. Càng nhiều thanh niên sử dụng Facebook, họ càng cảm thấy tồi tệ theo từng khoảnh khắc và càng ít cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình.

DoSometing.org, “một trong những tổ chức lớn nhất dành cho giới trẻ và thay đổi xã hội”, liệt kê một số tác động xấu của mạng xã hội, bao gồm rối loạn giấc ngủ, trầm cảm, nghiện ngập, căng thẳng 24/7, cô lập, bất an và sợ bị bỏ rơi (FOMO[8]). FOMO hoặc nỗi sợ hãi bỏ lỡ điều gì đó quan trọng (như trò đùa của bạn bè, tiệc tùng, hoạt động và những cách vui vẻ khác) dẫn đến trầm cảm và lo lắng ở những người dùng mạng xã hội tuổi teen, theo một cuộc khảo sát do Hiệp hội Tâm lý Úc thực hiện. FOMO là một trong những lý do chính khiến thanh thiếu niên sử dụng nhiều phương tiện truyền thông xã hội.

Năm 2019, một nghiên cứu của Đại học Montreal[9] đã phát hiện ra rằng thời gian sử dụng các thiết bị hoặc công nghệ khác nhau bao gồm cả chơi trò chơi điện tử, mạng xã hội có liên quan nhiều hơn đến các triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên, đây chính là nguyên nhân phổ biến với thanh thiếu niên, đặc biệt là Instagram, thanh thiếu niên có khả năng so sánh cuộc sống của mình với hình ảnh lý tưởng trong nguồn cấp dữ liệu của họ và thúc đẩy so sánh xã hội trở lên. Thông thường, điều này khiến họ cảm thấy không đủ và không tốt về bản thân. Cụ thể là Instagram có thể không tốt cho các cô gái tuổi teen vì nó dẫn đến nhiều sự so sánh giữa mình và những người khác. Những so sánh này thậm chí có thể không dựa trên thực tế vì hình ảnh trên Instagram đã phải qua bộ lọc, trang điểm, ánh sáng, góc độ và các thao tác khác. Ngoài ra, các MRI[10] chức năng cho thấy “lượt thích” ảnh hưởng đến phần mạch tưởng thưởng của não và liên kết hình ảnh trở nên tốt hơn. Instagram được cho là thu hút các cô gái hơn các chàng trai. Các mối quan hệ trên màn ảnh làm giảm thời gian dành cho các mối quan hệ ngoài đời thực và phát triển các kỹ năng xã hội. Theo Patricia Greenfield, giáo sư tâm lý học tại Đại học UCLA[11], mục tiêu nghiên cứu của bà là khi mọi người sử dụng phương tiện truyền thông kỹ thuật số để tương tác xã hội, họ sẽ dành ít thời gian hơn để phát triển các kỹ năng xã hội và học cách đọc các tín hiệu phi ngôn ngữ. “Tương tác xã hội là cần thiết để phát triển các kỹ năng hiểu được cảm xúc của người khác.”

Kết quả một cuộc khảo sát từ Đại học Glasgow[12] cho thấy rằng việc sử dụng mạng xã hội đặc biệt vào ban đêm, với sự liên quan mạnh mẽ đến cảm xúc, dẫn đến chất lượng giấc ngủ kém hơn, lòng tự trọng thấp hơn và mức độ lo lắng cao hơn. Đây có thể là một vấn đề vì thanh thiếu niên có lòng tự trọng thấp lớn lên như những người trưởng thành trầm cảm, theo các nghiên cứu trước đây.

Mạng xã hội là mảnh đất màu mỡ cho những kẻ có ảnh hưởng xấu, những kẻ độc danh ẩn danh và là nơi săn lùng của những kẻ tà đạo và những kẻ săn mồi khác.

Phương tiện truyền thông xã hội cũng có một số “người có ảnh hưởng” nổi tiếng, những người thực sự được trả tiền để quảng cáo sản phẩm, sự kiện và dịch vụ. Thanh thiếu niên có thể gặp khó khăn trong việc phân biệt đâu là quảng cáo thực sự, đâu là thông tin giả mạo và đâu là thông tin xác thực.

Đối với những đứa trẻ khao khát được chú ý, Facebook và các mạng xã hội khác trở thành nơi để chúng hành động. Những đứa trẻ này có thể đưa ra những tuyên bố, hình ảnh và phim ảnh (video) không phù hợp mà cuối cùng có thể gây hại cho chúng. Ngoài ra, các bài đăng và tài liệu được xuất bản trực tuyến có xu hướng tồn tại vĩnh viễn và có thể ám ảnh chúng trong tương lai.

Nghiên cứu mới cho thấy những người trẻ tuổi có tiền sử làm hại bản thân[13] hoặc cố gắng tự tử có thể đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những thông điệp tiêu cực được đăng trực tuyến. Đánh giá năm 2017, được công bố trên tạp chí PLOS ONE[14], cho thấy trẻ em và thanh niên có ý nghĩ tự làm hại bản thân hoặc tự tử thực sự đã dành nhiều thời gian hơn trên Internet và thường là nạn nhân của bắt nạt trên mạng hơn so với những người không có suy nghĩ và hoạt động như vậy.

Một số nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu của Đại học Bang San Diego[15] cho thấy rằng thời gian sử dụng màn hình nhiều hơn và mạng xã hội có thể gây ra sự gia tăng trầm cảm và tự tử ở thanh thiếu niên Mỹ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người dành ít thời gian nhìn vào màn hình và có nhiều thời gian giao tiếp xã hội mặt đối mặt ít có nguy cơ bị trầm cảm hoặc tự tử hơn.

Một số trẻ em nhận ra rằng dành nhiều thời gian trên mạng xã hội dẫn đến lãng phí thời gian và điều này ảnh hưởng tiêu cực đến tâm trạng của chúng.

Ảnh tự chụp, đã trở nên phổ biến với sự gia tăng của điện thoại có máy ảnh, có thể gây ra tình trạng suy nhược tâm thần khi một người trở nên ám ảnh về ngoại hình. Chẳng hạn, tờ Mirror[16] gần đây đã đưa tin về một người nghiện chụp ảnh tự sướng đã cố gắng tự sát khi không thể chụp được một bức ảnh hoàn hảo. Theo Pamela Rutledge trên tạp chí Psychology Today[17], “Việc bận tâm đến những bức ảnh tự chụp có thể là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy một người trẻ thiếu tự tin hoặc cảm giác về bản thân có thể khiến họ trở thành nạn nhân của các vấn đề khác. Chụp ảnh tự sướng quá mức và ngày càng khiêu khích là một hình thức ‘diễn xuất’, một kiểu hành vi phổ biến để thu hút sự chú ý ”.

Các nhà giáo dục cũng lưu ý rằng đối với trẻ em và thanh thiếu niên trên mạng xã hội, không có quy tắc chính tả và ngữ pháp. Thực trạng, cho phép là “ok” khi viết sai chính tả và không có ý nghĩa. Những đứa trẻ kém tinh tế sẽ khó phân biệt giữa giao tiếp trên mạng xã hội và giao tiếp trong thế giới thực. Trên thực tế, nhiều giáo viên phàn nàn rằng giao tiếp trên mạng xã hội với lỗi chính tả và thiếu ngữ pháp đang ngấm vào các bài viết ở trường của học sinh.

Thói quen trên mạng xã hội cũng được cho là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu ngủ và các vấn đề về giấc ngủ ở thanh thiếu niên. Ánh sáng rực rỡ phát ra từ điện thoại thông minh và máy tính bảng được cho là có thể làm gián đoạn chu kỳ giấc ngủ. Đối với những người trẻ tuổi, giấc ngủ rất quan trọng đối với việc học tập, sự phát triển não bộ của trẻ cũng như sự phát triển sức khỏe thể chất.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y khoa JAMA[18] cho thấy rằng thanh thiếu niên càng xem nhiều mạng xã hội và phát trực tuyến video, thì họ càng có nhiều khả năng phát triển các triệu chứng của rối loạn, quá mức hay giảm sự tập trung hoặc ADHD[19], gây ra thời gian tập trung ngắn hơn hoặc mất tập trung.

Nam tước Susan Greenfield[20], một nhà khoa học thần kinh hàng đầu của Đại học Oxford cảnh báo về tác động suốt đời của quá nhiều mạng xã hội:

Quảng Pháp Trần Minh Triết | Tu Thư Sen Trắng dịch Việt và ghi chú

Kỳ tới: Mặt tốt của phương tiện truyền thông xã hội
đối với thanh thiếu niên và trẻ em | Good Effects Of Social Media On Teens And Kids

[1] UCLA Brain Mapping Center 
[2] Thuyết so sánh xã hội, do nhà tâm lý học xã hội Leon Festinger đề xuất bản đầu vào năm 1954, tập trung vào niềm tin rằng có một động lực bên trong các cá nhân để đạt được những đánh giá chính xác về bản thân. Lý thuyết giải thích cách các cá nhân đánh giá ý kiến và khả năng của chính mình bằng cách so sánh bản thân với người khác để giảm sự không chắc chắn trong các lĩnh vực này và học cách xác định bản thân.
[3] Kinh tế lao động (Labor Economics) là nghiên cứu về sức lao động với tư cách là một yếu tố của quá trình sản xuất. Lực lượng lao động bao gồm tất cả những người làm việc vì lợi ích trong thị trường lao động, cho dù là người lao động, người sử dụng lao động hoặc lao động tự do, nhưng cả những người thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm. | https://wol.iza.org/
[4] Bắt nạt trên mạng (Cyberbullying) hay còn gọi đe doạ trực tuyến: Bắt nạt trên mạng hoặc quấy rối trên mạng là một hình thức bắt nạt hoặc quấy rối bằng cách sử dụng các phương tiện điện tử. Bắt nạt trên mạng và quấy rối trên mạng còn được gọi là bắt nạt trực tuyến. Nó ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên, khi lĩnh vực kỹ thuật số ngày càng mở rộng và công nghệ ngày càng phát triển.
[5] ScienceDaily | Your source for the latest research news ~ September 11, 2015 ~ British ~ Psychological Society,
[6] Hiệp hội Tâm lý Anh (The British Psychological Society)
[7] Facebook Use Predicts Declines in Subjective Well-Being in Young Adults ~ Ethan Kross,Philippe Verduyn,Emre Demiralp,Jiyoung Park,David Seungjae Lee,Natalie Lin,Holly Shablack,John Jonides,Oscar Ybarra
[8] Chứng FOMO: Sợ bỏ lỡ là một chứng lo âu xã hội xuất phát từ niềm tin rằng những người khác có thể đang vui vẻ trong khi mình không có mặt. Nó đặc trưng lòng mong muốn duy trì kết nối liên tục với những gì người khác đang làm.
[9] Social media, but not video games, linked to depression in teens, according to Montreal study ~ Kate McKenna, CBC News, Jul 15, 2019
[10] MRI (Magnetic resonance imaging) là một kỹ thuật hình ảnh y tế được sử dụng trong X quang để tạo hình ảnh về giải phẫu và các quá trình sinh lý của cơ thể. Máy quét MRI sử dụng từ trường mạnh, độ dốc từ trường và sóng vô tuyến để tạo ra hình ảnh của các cơ quan trong cơ thể.
[11] In our digital world, are young people losing the ability to read emotions? ~ Stuart Wolpert, August 21, 2014
[12] Social media use and adolescent sleep patterns: cross-sectional findings from the UK millennium cohort study 
[13] Làm hại bản thân (Self-harm hay self-injury): Tự làm tổn thương bản thân hoặc tự gây thương tích là cố ý gây thương tích trực tiếp cho các mô da của chính mình thường mà không có ý định tự sát. Các thuật ngữ khác như cắt và tự cắt đã được sử dụng cho bất kỳ hành vi tự làm hại nào bất kể ý định tự sát. Hình thức tự làm hại bản thân phổ biến nhất là dùng vật sắc nhọn để cắt da. Các hình thức khác bao gồm gãi, đánh hoặc đốt các bộ phận cơ thể. Trong khi cách sử dụng trước đó bao gồm can thiệp vào quá trình chữa lành vết thương, ngoáy da quá mức, nhổ tóc và ăn chất độc, thì cách sử dụng hiện tại phân biệt những hành vi này với hành vi tự làm hại bản thân. Tương tự như vậy, tổn thương mô do lạm dụng thuốc hoặc rối loạn ăn uống không được coi là tự gây hại vì nó thường là một tác dụng phụ không mong muốn. Mặc dù theo định nghĩa, hành vi tự làm hại bản thân không phải là hành vi tự sát, nhưng nó vẫn có thể đe dọa đến tính mạng. Những người tự làm hại bản thân có nhiều khả năng tự tử hơn và hành vi tự làm hại bản thân được tìm thấy trong 40-60% các vụ tự tử. Tuy nhiên, chỉ có một số ít những kẻ tự làm hại bản thân là tự tử. Mong muốn tự làm hại bản thân là một triệu chứng phổ biến của một số rối loạn nhân cách. Những người bị rối loạn tâm thần khác cũng có thể tự làm hại bản thân, bao gồm những người bị trầm cảm, rối loạn lo âu, lạm dụng chất kích thích, rối loạn ăn uống, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, tâm thần phân liệt và rối loạn phân ly. Các nghiên cứu cũng cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ cho chức năng tự trừng phạt và bằng chứng khiêm tốn cho các chức năng chống phân ly, ảnh hưởng giữa các cá nhân, chống tự sát, tìm kiếm cảm giác và các chức năng ranh giới giữa các cá nhân. Tự làm hại bản thân cũng có thể xảy ra ở những người hoạt động cao mà không có chẩn đoán cơ bản về sức khỏe tâm thần. Động cơ tự làm hại bản thân rất khác nhau. Một số người sử dụng nó như một cơ chế đối phó để giảm tạm thời những cảm giác dữ dội như lo lắng, trầm cảm, căng thẳng, tê liệt cảm xúc hoặc cảm giác thất bại. Tự làm hại bản thân thường đi kèm với tiền sử chấn thương, bao gồm cả lạm dụng tình dục và cảm xúc. Tự làm hại bản thân phổ biến nhất trong độ tuổi từ 12 đến 24. Tự làm hại bản thân phổ biến hơn ở nữ giới so với nam giới với nguy cơ này cao hơn 5 lần ở nhóm tuổi 12-15. Tự làm hại bản thân trong thời thơ ấu tương đối hiếm nhưng tỷ lệ này đã tăng lên kể từ những năm 1980. Tự làm hại bản thân cũng có thể xảy ra ở những người cao tuổi. Nguy cơ bị thương nặng và tự tử cao hơn ở những người lớn tuổi tự làm hại bản thân. Động vật nuôi nhốt, chẳng hạn như chim và khỉ, cũng được biết là tham gia vào hành vi tự làm hại bản thân.
[14] A systematic review of the relationship between internet use, self-harm and suicidal behaviour in young people: The good, the bad and the unknown
[15] Increases in Depressive Symptoms, Suicide-Related Outcomes, and Suicide Rates Among U.S. Adolescents After 2010 and Links to Increased New Media Screen Time ~ Jean M. Twenge, Thomas E. Joiner, Megan L. Rogers, Gabrielle N. Martin
[16] Selfie addict took TWO HUNDRED a day – and tried to kill himself when he couldn’t take perfect photo ~ Gemma AldridgeKerry Harden
[17] Selfie Use: Abuse or Balance? ~ Pamela B. Rutledge Ph.D., M.B.A.
[18] Association of Digital Media Use With Subsequent Symptoms of Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder Among Adolescents ~ Chaelin K. Ra, MPH1; Junhan Cho, PhD1; Matthew D. Stone, BA2; et al
[19] ADHD (Attention-Deficit / Hyperactivity Disorder) là một trong những rối loạn phát triển thần kinh phổ biến nhất ở thời thơ ấu. Nó thường được chẩn đoán lần đầu tiên trong thời thơ ấu và thường kéo dài đến tuổi trưởng thành. Trẻ ADHD có thể gặp khó khăn khi chú ý, kiểm soát các hành vi bốc đồng (có thể hành động mà không suy nghĩ về kết quả sẽ ra sao) hoặc hoạt động quá mức.
[20] Facebook and Bebo risk ‘infantilising’ the human mind 

Good and Bad Effects
of Social Media on Teens and Kids

Instagram, Snapchat, TikTok, Facebook, Twitter and other social media sites are godsends to kids and teens who want to get in touch and know what is going on with their friends or relatives.  By just opening an app or a website, they can communicate with and learn about all the people who are important to them (at least those who are signed in to the same network).

But like many things that people are passionate about, there are detractors to social networking.  When it comes to kids and teens, many studies argues that social networking has bad effects on the kids’ minds –  and the damage could be long-term and irrevocable.  On the other hand, defenders are quick to point out that kids on social networking are increasing their social interaction while wiring their brains to adapt to new technology.

I. Bad Effects Of Social Media On Teen And Kids

The one common bad effect of social media is addiction – the constant checking of Snapchat, Instagram, Facebook, Twitter, or other social media updates. Experts believe that knowing what’s going on with friends and what they are thinking or feeling can be addicting. Researchers at UCLA’s Brain Mapping Center has found that being appreciated in social media through “likes” was seen in brain scans to activate the reward centers of the brain. This reward circuitry is particularly sensitive during adolescence, and this may partly explain why teenagers are more into social media.

For kids and teens, knowing how many people like what they posted, how many followed (or unfollowed) them, and knowing what people say about them also leads to compulsive checking. This addiction to social media could disrupt other worthwhile activities like concentrating on schoolwork, reading or engaging in sports. The heaviest social media users admit to checking their social media feeds more than 100 times a day, sometimes even during school.

Bad effects of social networking to kids and teens, according to psychologists or suggested by scientific studies, are as follows:

Baroness Susan Greenfield, a top neuroscientist of the Oxford University warns about the lifelong effects of too much social networking:

Exit mobile version