
Tự thân người diễn viên, vốn đã say mê, phóng dật, lại gây ra sự say mê, phóng dật, thì sau khi chết, thân hình rã hoại, sẽ sinh vào địa ngục kia, có tên là [Địa ngục] Cười. Nếu nhận thức của người [xem] đó là như thế này: ‘Diễn viên trên sân khấu trong lễ hội làm cho người khác vui tươi bằng những điều không có thật thì sau khi chết, thân hình rã hoại, sẽ được tái sinh cùng với chư thiên [ở cõi] Cười’, thì nhận thức của người đó là tà kiến.
Này Thôn trưởng, ta nói trái lại rằng thật sự chỉ có một trong hai con đường tái sinh của những người có tà kiến đó: hoặc là đi đến địa ngục, hoặc là đi đến tử cung của loài súc sinh.” ~ S. iv, 306
Pubbe kho gāmaṇī, sattā avītarāgā rāgabandhanabaddhā, tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā rajanīyā te upasaṃharati bhiyyo sarāgāya.* Pubbe kho gāmaṇī sattā avītadosā dosābandhanabaddhā, tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā dosanīyā te upasaṃharati bhiyyo sadosāya. Pubbe kho gāmaṇi, sattā avītamohā mohabandhanabaddhā, tesaṃ naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe ye dhammā mohanīyā te upasaṃharati bhīyyo samohāya. So attanā matto pamatto pare madetvā pamādetvā kāyassa bhedā parammaraṇā pahāso nāma nirayo tatthuppajjati. Sace kho panassa evaṃ diṭṭhī hoti ‘yo so naṭo raṅgamajjhe samajjamajjhe saccālikena janaṃ bhāseti rameti, so kāyassa bhedā parammaraṇā pahāsānaṃ devānaṃ sahavyataṃ uppajjatī’ ti sāssa hoti micchā diṭṭhi, micchā diṭṭhikassa kho panāhaṃ gāmaṇī purisapuggalassa dvinnaṃ gatīnaṃ aññataraṃ gatiṃ vadāmi nirayahaṃ vā tiracchānayoniṃ vāti. ~ S. iv, 306

